ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN TỐNG THỊ HÀ NGHIÊN CỨU SỰ LƢU HÀNH CÁC TYP HUYẾT THANH VÀ KIỂU GEN KHÁNG KHÁNG SINH CỦA Streptococcus pneumoniae GÂY BỆNH BẰNG KỸ THUẬT PCR ĐA MỒI TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Vi sinh vật học Mã số: 62420107 DỰ THẢO TÓM TẮT LUẬN Nhiều khuẩn kháng thuốc tăng nguy cơ tử vong tăng cao, nhất là với nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm khuẩn. PGS.TS.BSS Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Trưởng khoa Nhi Kết thúc Lời kêu gọi, Hồ Chí Minh khẳng định một niềm tin tất thắng: "Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta". Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!". Niềm tin của Việt Nam là một trong những nước có tình trạng đề kháng kháng sinh cao nhất khu vực. Tình trạng vi khuẩn đề kháng kháng sinh đã và đang là thách thức lớn. (84.28) 38291667 Tại Việt Nam, các thống kê cho thấy lượng kháng sinh được nhập khẩu và sản xuất tại trong nước có chiều hướng tăng hàng năm. "91% phụ nữ nông thôn và 88% phụ nữ ở thành thị thừa nhận thường xuyên mua thuốc kháng sinh ở các tiệm thuốc tây để điều trị cho con. cash. TÌNH HÌNH KHÁNG THUỐC KHÁNG SINH HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM DS. Lê Mới Em, Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Thạnh Trị, Sóc Trăng 1. Tình hình đề kháng thuốc kháng sinh hiện nay hình kháng thuốc trên thế giới. Trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, vấn đề kháng thuốc đã trở nên báo động. Gánh nặng về chi phí điều trị do các bệnh nhiễm khuẩn gây ra khá lớn do việc thay thế các kháng sinh cũ bằng các kháng sinh mới, đắt tiền. Số liệu nghiên cứu giám sát ANSORP từ tháng 1/2000 đến tháng 6/2001 của 14 trung tâm từ 11 nước Đông Nam Á cho thấy tỷ lệ kháng cao của vi khuẩn S. pneumoniae. Trong số 685 chủng vi khuẩn S. pneumoniae phân lập được từ người bệnh, có 483 52,4% chủng không còn nhạy cảm với penicillin, 23% ở mức trung gian và 29,4% đã kháng với penicillin MIC ≥ 2mg/l. Kết quả phân lập vi khuẩn cho thấy tỷ lệ kháng penicillin ở Việt Nam cao nhất 71,4% tiếp theo là Hàn Quốc 54,8%, Hồng Kông 43,2% và Đài Loan 38,6%. Tỷ lệ kháng erythromycin cũng rất cao, ở Việt Nam là 92,1%, Đài Loan là 86%, Hàn Quốc là 80,6%, Hồng Kông là 76,8% và Trung Quốc là 73,9%. Số liệu từ nghiên cứu giám sát đa trung tâm đã chứng minh rõ ràng về tốc độ và tỷ lệ kháng của S. pneumoniae tại nhiều nước châu Á, những nơi có tỷ lệ mắc bệnh nhiều nhất thế giới. Theo số liệu nghiên cứu KONSAR từ 2005-2007 ở các bệnh viện Hàn Quốc cho thấy S. aureus kháng Methicillin MRSA 64%; K. pneumoniae kháng cephalosporin thế hệ 3 là 29%; E. colikháng fluoroquinolone 27%, P. aeruginosa kháng 33%, Acinetobacter spp. kháng 48%; P. aeruginosa kháng amikacin 19%, Acinetobacter 37%. E. faecium kháng vancomycin và Acinetobacter spp. kháng imipenem tăng lên dần. Tỷ lệ kháng phát hiện tại các phòng xét nghiệm của E. coli và K. pneumoniae đối với cephalosporin thế hệ 3 và P. aeruginosa đối với imipenem cao hơn trong bệnh viện. Tình hình kháng thuốc kháng sinh ở Việt Nam. Tỉ lệ kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn Gram dương. Tụ cầu vàng Staphylococcus aureus là nguyên nhân gây nhiều loại nhiễm khuẩn trong bệnh viện như viêm phổi, nhiễm trùng xương, tim và nhiễm khuẩn huyết. Hiện nay, tụ cầu vàng kháng methicillin MRSA kháng giống nhau đối với tất cả các penicillin hiện hành và các β – lactam khác. Từ sau thập niên 1990 đã xuất hiện các trường hợp nhiễm MRSA tại cộng đồng gọi là CA-MRSA community-associated MRSA, những trường hợp này hoàn toàn không có yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện. Nhiễm trùng do vi khuẩn này đang có khuynh hướng xảy ra phổ biến hơn ở người trẻ, khỏe mạnh và gây bệnh chủ yếu ở da và mô mềm. Cũng có thể gặp viêm phổi hoại tử do vi khuẩn này. Nhiễm khuẩn do MRSA khó điều trị hơn so với tụ cầu vàng nhạy cảm với methicillin, chỉ có một số kháng sinh còn có hiệu quả tốt trong tình huống này. Tỉ lệ kháng kháng sinh của S. aureus khác nhau giữa các bệnh viện có tới 68,8% các chủng phân lập tại bệnh viện Chợ Rẫy kháng với Gentamicin. Tỉ lệ kháng Oxacillin cao nhất tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế với 63,8%. Theo báo cáo của Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2008, có 8% số chủng S. aureus phân lập được đề kháng với vancomycin. Tuy nhiên, đến năm 2009, phần lớn các bệnh viện kể cả Chợ Rẫy không có chủng S. aureus nào đề kháng với vancomycin trừ một số bệnh viện tỉnh và bệnh viện trực thuộc Sở y tế cho kết quả đáng nghi ngờ về tỉ lệ kháng vancomycin của tụ cầu vàng, ví dụ như 60,9% S. aureus kháng vancomycin tại bệnh viện Uông Bí, 24,1% tại bệnh viện Bình Định và 15,6% tại bệnh viện Xanh Pôn. Streptococcus pneumoniae xuất hiện kháng thuốc với nhiều loại kháng sinh, bao gồm penicillin, cephalosporins các β – lactam, macrolide, fluoroquinolone, và thậm trí đã xuất hiện đa kháng thuốc. Cơ chế phế cầu đề kháng với β – lactam là thay đổi protein kết hợp thuốc PBP-penicillin binding protein. Tình hình kháng với macrolide là cao và nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Hai cơ chế chính kháng macrolide, cụ thể là kháng ở mức thấp MIC 1-32mcg/mL do thay đổi cơ chế bơm đẩy do gen mef A quyết định và kháng ở mức cao MIC> 64mcg/mL do cơ chế methyl hóa ribosome tác động lên vị trí kết hợp thuốc do gen erm B quyết định. Hiện nay, trên phạm vi toàn cầu, tình trạng phế cầu kháng fluoroquinolone FQ còn rất hiếm nhưng đang có khuynh hướng gia tăng. Fluoroquinolone tác dụng trên vi khuẩn thông qua cơ chế ức chế tổng hợp DNA. Kháng thuốc xuất hiện bằng cơ chế đột biến các gen gyrA và parC. Ở các trường hợp ngưỡng kháng thấp, đột biến chủ yếu xảy ra ở vị trí parC và các trường hợp này còn nhậy cảm với các fluoroquinolone mới. Trong khi kháng ở mức độ cao có sự tham gia đồng thời đột biến ở cả 2 vị trí gen parC và gyrA. Kháng thông qua cơ chế bơm đẩy cũng có thể xảy ra nhưng ý nghĩa thực của cơ chế còn chưa biết rõ. Tỉ lệ kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn Gram âm. Nhiễm trực khuẩn Gram- như Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli và các chủng vi khuẩn khác thuộc nhóm Enterobacteriaceacó vẻ tương đối phổ biến. Trong những năm qua, đã có sự gia tăng kháng thuốc trong số các vi khuẩn gây bệnh nhóm này, bao gồm cả sự hiện diện của các men beta-lactamase phổ rộng ESBL. Những ca kháng thuốc đã được ghi nhận ở nhiễm khuẩn cộng đồng và nhất là trên những người có sử dụng dịch vụ chăm sóc y tế. Nhiễm trùng nhóm này thường kết hợp với tăng tử vong, có rất nhiều dạng kháng thuốc đã được phát hiện trong nhóm trực khuẩn Gram - này. Klebsiella pneumoniae là trực khuẩn Gram âm gây viêm phổi mắc phải tại bệnh viện. Hiện nay, tại Việt Nam đã xuất hiện một trong những vi khuẩn đa kháng thuốc. Sự kháng thuốc của nhóm vi khuẩn này cực kì nguy hiểm bởi vì bản thân loại vi khuẩn này có khả năng sinh được hai loại enzyme β lactamase phổ rộng và carbapenemase. Các enzyme này làm biến đổi, phá hủy cấu trúc hóa học của kháng sinh. β lactamase phổ rộng có khả năng phân giải hầu hết các loại kháng sinh thuộc nhóm β lactam đặc biệt đối với các penicillin và các cephalosporin thế hệ thứ 3. Quan trọng hơn nữa là Klebsiella pneumoniae còn có khả năng sản sinh được carbapenemase phân giải carbapenem như imipenem, meropenem…, trong khi carbapenem được xem như là cứu cánh cuối cùng trong việc lựa chọn kháng sinh để điều trị. Kết quả Phân lập được 35 chủng từ 680 mẫu bệnh phẩm tại Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh từ tháng 1-6/2014, kết quả như sau K. pneumoniakháng cao nhất với Ampiciline 94,29%, tiếp đó Trimethoprim/ sulfamethoxazol 79,31%, Cephalexine, Piperacillin 62,86%, Ceftazidime 51,43%, chỉ một tỉ lệ nhỏ kháng lại Colistin, Imipenem, Meropenem 2,86%; 65,71% chủng sinh ESBL và 20% chủng sản xuất carbapenemase. Trực khuẩn mũ xanh Pseudomonas aeruginosa là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện. Chúng gây nên những bệnh lí với nhiều mức độ khác nhau như viêm phổi, nhiễm khuẩn vết thương, nhiễm khuẩn huyết nặng với tỉ lệ tử vong khá cao. Tỉ lệ P. aeruginosa gây nhiễm khuẩn bệnh viện đã tăng dần trong những năm gần đây trên thế giới và cả Việt Nam. Cùng với sự gia tăng về tỉ lệ nhiễm khuẩn là sự gia tăng về khả năng kháng kháng sinh, cụ thể kháng với carbapenem. Ở Việt Nam, nghiên cứu ở 36 bệnh viện các tỉnh phía Bắc trong năm 2006 – 2007 bao gồm 2 bệnh viện Trung ương, 17 bệnh viện tuyến tỉnh, 17 bệnh viện tuyến huyện cho thấy 553/7571 7,8% bệnh nhân bị nhiễm trùng mắc phải tại bệnh viện. Có 3 loại nhiễm khuẩn chính viêm phổi 41,9%, nhiễm khuẩn vết mổ 27,5%, nhiễm khuẩn tiêu hóa 13,1%. Căn nguyên chính là Acinetobacter baumannii 23,3% và Pseudomonas aeruginosa 31,5%. Theo kết quả nghiên cứu từ 4 bệnh viện tại Hà Nội Việt Đức, Xanh Pôn, Bệnh viện 108 và Bệnh viện 103 từ năm 2005 – 2008 cho thấy P. aeruginosa phân lập từ các bệnh phẩm đề kháng rất cao với các loại kháng sinh như Tetracycline 92,1%, Ceftriaxone 58,5% và Gentamicin 54%. Acinetobacter là những vi khuẩn Gram âm, đa hình hình cầu khuẩn hoặc cầu trực khuẩn, rất dễ nhầm lẫn với các vi khuẩn thuộc giống Neisseria. Chúng gây những bệnh lí khác nhau với mức độ khác nhau, từ viêm phổi đến nhiễm khuẩn vết thương và nhiễm khuẩn huyết nặng. Tỉ lệ Acinetobacter nhiễm khuẩn bệnh viện đã tăng lên đều đặn trong những năm gần đây trên thế giới. Kết hợp với tỉ lệ nhiễm khuẩn tăng, một tỉ lệ tăng lên của chủng không nhạy cảm kháng sinh, cụ thể carbapenem đặc biệt đáng lo ngại. Hiện nay, Acinetobacter được xem là vi khuẩn hàng đầu gây viêm phổi bệnh viện tại những bệnh viện lớn trong nước và kháng với hầu hết kháng sinh kể cả những kháng sinh phổ rộng mạnh nhất hiện nay. Trong tổng kết của Bộ Y tế năm 2004, phần lớn những kháng sinh sử dụng thường xuyên hiện nay đã bị kháng như ceftriaxone 70%, ceftazidime 64%, ciprofloxacine 55% và Acinetobacter trở thành tác nhân hàng đầu kháng toàn bộ kháng sinh cùng với P. aeruginosa gây rất nhiều khó khăn cho công tác điều trị. Các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc hiện nay “ESKAPE”viết tắt của 6 chữ cái đầu tiên của 6 chủng vi khuẩn trong hình minh họa bên dưới là các tác nhân gây nhiễm trùng nặng, kéo dài thời gian nằm viện và tăng chi phí điều trị. 2. Cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Làm thay đổi đích tác động. Vi khuẩn thay đổi đích tác động của kháng sinh, do đó kháng sinh không còn vị trí để tác động. Ví dụ Acinobacter baumani kháng lại Imipenem và Pseudomonas aeruginosa kháng Ticarcillin và Imipenem do chúng thay đổi vị trí gắn vào protein của các kháng sinh. Cơ chế tác động của các kháng sinh nhóm quinolone là ức chế hoạt động của đoạn gen mã hóa quá trình tổng hợp enzym GyrA ADN gyrase subunit A và ParC topoisomerase IV của tế bào vi khuẩn. Ví dụ tính kháng quinolone của S. typhi xảy ra do đột biến điểm của các đoạn gen mã hóa quá trình tổng hợp enzym GyrA và ParC trên nhiễm sắc thể của vi khuẩn. Tạo ra các enzyme. Enzym được tạo ra làm biến đổi hoặc phá hủy cấu trúc phân tử của kháng sinh. Ví dụ với các enzym beta-lactamase có khả năng phá hủy penicillin được báo cáo trước khi được đưa vào sử dụng vào đầu những năm 1940. Sau đó hàng loạt các enzym beta-lactamase có khả năng ức chế hoặc phân hủy các kháng sinh mạnh như cephalosporin và carbapenem được phát hiện. Hiện nay đã xác định được hơn 890 loại enzym kháng kháng sinh của vi khuẩn, nhiều hơn số lượng các loại kháng sinh đã được sản xuất và phần lớn các gen mã hóa các enzym này nằm trên các plasmid có thể truyền dễ dàng trong quần thể vi khuẩn cùng và khác loài. Làm giảm tính thấm của màng nguyên sinh chất Làm giảm mức độ thấm của kháng sinh qua thành tế bào vi khuẩn trong trường hợp kháng tetracycline hoặc làm mất hệ thống vận chuyển qua màng trong trường hợp kháng kháng sinh nhóm aminoglycosid. Việc thâm nhập của các kháng sinh nhóm beta-lactam được thực hiện qua các kênh vận chuyển porin, vi khuẩn biến đổi làm mất các kênh vận chuyển và làm hạn chế sự tác động của nhóm kháng sinh này. Cơ chế bơm đẩy efflux pump của các kháng sinh nhóm quinolon của vi khuẩn E. colivà P. aeruginosa, thường liên quan đến hệ thống vận chuyển ion qua màng tế bào. Tài liệu tham khảo. 1. Bùi Khắc Hậu và nhóm tác giả 2008, Dịch tễ học phân tử các chủng Pseudomonas aeruginosa đa kháng thuốc nhiễm trùng bệnh viện tại Hà Nội, Báo cáo kết quả nghiên cứu Đề tài cấp Bộ, Đại học Y Hà Nội. 2. Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thị Tuyết Nga, Vũ Văn Giang, Nguyễn Văn Hà, Trần Quý 2008, Tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến nhiễm trùng bệnh viện trong một số bệnh viện ở phía bắc của Việt Nam, 2006-2007, Tạp chí Y học lâm sàng 6. 3. Hoàn Doãn Tĩnh, Vũ Lê Ngọc Lan, Uông Nguyễn Đức Minh, Lí Thành Hữu, Cao Hữu Nghĩa 2014, Tình hình kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa phân lập được trên bệnh phẩm tại viện pasteur, TP Hồ Chí Minh. 4. Bùi Thị Mùi, Lê Thị Ánh Hồng, Nguyễn Thanh Liêm 2010, “Tỉ lệ sinh men Beta – lactamaes phổ rộng và tính nhạy cảm kháng sinh của Klebsiella Pneumoniae gây nhiễm khuẩn đường hô hấp trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi ở Bệnh viện Nhi Trung ương”, Tạp chí Y học dự phòng, 217. 5. Kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020 Phê duyệt kèm theo Quyết định số 2174/QĐ-BYT ngày 21 tháng 6 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế. 6. Nghiên cứu giám sát ANSORP từ 1/2000 đến 6/2001 Song JH & ANSORP. Antimicrobial Agents And Chemotherapy, June 2004, p. 2101–2107. 7. Nghiên cứu KONSAR từ 2005-2007 ở các bệnh viện KoreaYonsei Med J. 2010 Nov;516901-11. 8. Clinical Relevance of the ESKAPE Thực trạng kháng kháng sinh KKS đã trở thành vấn đề toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển - nơi mà các loại bệnh truyền nhiễm còn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu bệnh tật. Những năm gần đây, các kết quả nghiên cứu về lĩnh vực y tế tại Việt Nam cho thấy, vi khuẩn KKS hiện đang ở mức độ cao với các chủng đa dạng, kháng đa kháng sinh và cơ chế lây truyền phức tạp. Đặc biệt, nghiên cứu của TS. BS Trần Huy Hoàng đã phát hiện được các vi khuẩn gram âm mang các gen như NDM-1, KPC kháng lại carbapenem là nhóm kháng sinh mạnh nhất hiện nay và thuộc nhóm “lựa chọn cuối cùng” của các chủng vi khuẩn Gram âm phân lập trên các bệnh nhân nhiễm khuẩn bệnh viện và trong môi trường bệnh viện. Không chỉ trong môi trường bệnh viện, các chủng vi khuẩn kháng các kháng sinh mạnh nhất hiện còn xuất hiện ở ngoài cộng đồng. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực y tế đã khẳng định, xu hướng KKS tại Việt Nam ngày càng gia tăng và nguy hiểm là sự lây lan nhanh chóng các gen mã hoá tính KKS thông qua trung gian plasmid. Thực tế, từ năm 2010, ngành y tế Việt Nam đã nhận thức sâu sắc mức độ nghiêm trọng của vi khuẩn KKS đe doạ tới công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Theo đó, nhiều giải pháp đã được triển khai, như Nâng cao công tác phòng chống nhiễm khuẩn trong bệnh viện; xây dựng kế hoạch hành động phòng chống vi khuẩn KKS giai đoạn 2010 - 2020; thực hiện một số nghiên cứu dưới sự hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài và Bộ Khoa học và Công nghệ. Tuy nhiên, do công nghệ, kỹ thuật nghiên cứu còn phụ thuộc vào đối tác nước ngoài nên việc khắc phục tình trạng KKS ở Việt Nam chưa đạt kết quả khả quan. Theo đó, việc thực hiện Đề tài nghiên cứu “Đánh giá thực trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn tại Việt Nam, xác định đặc điểm cấu trúc gen và yếu tố liên quan của các vi khuẩn kháng thuốc thường gặp ở Việt Nam” là cần thiết, nhằm mang lại thêm giải pháp nhanh chóng và hiệu quả để khắc phục tình trạng KKS ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứu do TS. BS Trần Huy Hoàng làm chủ nhiệm đã thực hiện nhiều phương pháp nghiên cứu sâu với các kỹ thuật tiên tiến, như Định danh nhanh vi khuẩn, nấm bằng hệ thống máy định danh khối phổ - MALDI Biotyper ứng dụng công nghệ MALDI TOF MS; kỹ thuật PCR phát hiện gen KKS của các chủng vi khuẩn; kỹ thuật kháng sinh đồ - khoanh giấy khuếch tán; kỹ thuật xác định nồng độ kháng sinh tối thiểu ức chế vi khuẩn; điện di xung trường PFGE, MLST, Southern blot và kỹ thuật giải trình tự toàn bộ hệ gen vi khuẩn bằng máy giải trình tự gen thế hệ mới Miseq để nghiên cứu nhằm đánh giá các đột biến của vi khuẩn kháng kháng sinh, sự lây lan của vi khuẩn này trong các bệnh viện, giữa các bệnh viện và trên thế giới ở mức độ phân tử;… Dưới sự hỗ trợ về trang thiết bị, sinh phẩm và chuyển giao công nghệ tiên tiến nhất hiện nay từ các chuyên gia hàng đầu thế giới cho các thành viên trong nhóm nghiên cứu đã giải quyết được triệt để các vấn đề về công nghệ và ngang tầm với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Hệ thống giải trình gen Miseq của Illumina nghiên cứu nhằm xác định các đột biến của vi khuẩn kháng kháng sinh. Góp phần làm giảm tình trạng kháng kháng sinh Sau 3 năm nghiên cứu kiên trì và bài bản, kết quả thu được từ dự án nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực trong tiến trình chống lại vi khuẩn KKS ở Việt Nam. Việc phân tích sâu các vi khuẩn KKS ở mức độ phân tử đã giúp nâng cao hiệu quả điều trị, phòng chống sự lây lan, giảm gánh nặng chi phí do vi khuẩn KKS gây nên cho gia đình và xã hội. Đồng thời, giúp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của Việt Nam sánh ngang với các quốc gia trong lĩnh vực xét nghiệm chuyên sâu KKS. Nhóm nghiên cứu đã hoàn thành báo cáo về tỷ lệ gen kháng, phân bố tính kháng theo loại bệnh, địa diểm, giới, tuổi, khoa điều trị. Tình trạng KKS ở cộng đồng, tình trạng lây truyền vi khuẩn kháng thuốc của 6/10 loại vi khuẩn; hoàn thành báo cáo đặc điểm cấu trúc gen của một số vi khuẩn KKS bao gồm E. coli, K. pneumoniae, P. aeruginosa tại bệnh viện. Tuy nhiên, theo TS. BS Trần Huy Hoàng, sản phẩm lớn nhất của nghiên cứu là xây dựng thành công kỹ thuật khoanh giấy kháng sinh khuếch tán, kỹ thuật PCR phát hiện gen KKS đạt ISO 15189 và quy trình ứng dụng phần mềm phân tích hệ gen để hình thành và vận hành phòng xét nghiệm tham chiếu quốc gia về giám sát KKS tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương. Cùng với đó là việc xây dựng thí điểm mạng lưới vệ tinh giám sát KKS với quy trình kháng sinh đồ cụ thể tại 4 bệnh viện, gồm Thanh Nhàn, Xanh Pôn, Quân đội 108, Hữu nghị Việt Xô và 4 cộng đồng, gồm Hà Nam, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương. Tổ chức Y tế Thế giới WHO xếp Việt Nam vào danh sách các nước có tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh cao nhất thế giới, do đó sự ra đời của phòng xét nghiệm tham chiếu quốc gia về genome tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương có ý nghĩa đặc biệt. Phòng xét nghiệm này có chức năng khẳng định kết quả nuôi cấy, phân lập, định danh và làm kháng sinh đồ. Đồng thời, thu thập, phân tích và báo cáo số liệu định kỳ về KKS để Bộ Y tế và các cơ quan liên quan tìm ra giải pháp ứng phó kịp thời, cũng như xây dựng chiến lược phòng chống kháng thuốc ở tầm quốc gia và khu vực cũng như trên thế giới. Theo Thứ trưởng Bộ Y tế - GS. TS Trần Văn Thuấn, một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng vi khuẩn KKS trong cộng đồng là do người dân cứ ốm là ra hiệu thuốc mua thuốc kháng sinh về điều trị, thậm chí còn mượn đơn kháng sinh của người khác về dùng cho mình, cho con mình. Còn lại do một số bác sỹ ở các cơ sở y tế chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về sử dụng kháng sinh hợp lý hoặc kê thuốc kháng sinh quá liều, không phù hợp cho bệnh nhân. Do đó, bên cạnh việc tăng cường bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ y bác sỹ thì việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân là rất cần thiết. Đặc biệt, cần bổ sung xây dựng các chính sách để quản lý, nghiên cứu khoa học nhằm khắc phục tình trạng KKS ở Việt Nam. Bảo Lâm Đăng bởi Hà Thị Huệ Ngày đăng Việt Nam là một trong những nước được tổ chức Y tế thế giới WHO xếp vào nhóm các nước có tỉ lệ kháng thuốc kháng sinh cao nhất thế giới. Bởi hiện nay, có đến 90% nhà thuốc tại Việt Nam bán thuốc kháng sinh không cần kê đơn và 87% người dân có thể đến nhà thuốc mua kháng sinh. Kháng thuốc kháng sinh là gì?Vi khuẩn kháng kháng sinh bằng cách nào?Biểu hiện kháng thuốc kháng sinhNguyên nhân kháng thuốc kháng sinhThiếu sót trong quy định về chuyên môn khám chữa bệnhSử dụng thuốc kháng khuẩn trong chăn nuôiNhận thức về thuốc kháng sinh còn hạn chếSử dụng thuốc kháng sinh không hợp lýPhòng và kiêm soát các bệnh truyền nhiễm chưa hiệu quảTác hại kháng thuốc kháng sinhTình trạng kháng thuốc kháng sinh ở việt namTỉ lệ kháng thuốc kháng sinh ở Việt namBệnh kháng thuốc kháng sinh có nguy hiểm không?Nguyên tắc dùng thuốc kháng sinh Kháng thuốc kháng sinh là gì? Đây là tình trạng xảy ra một loại vi sinh vật tiến hóa để đề kháng mạnh hơn hoặc hoàn toàn với thuốc kháng sinh và trước đó có thể chữa trị được. Sự đề kháng phát sinh thông qua một trong 3 cách đó là đề kháng tự nhiên trong một số loại vi khuẩn, gen đột biến hoặc bởi một loài có được sức đề kháng từ một loài khác. Kháng thể xuất hiện một cách tự nhiên, do sự tích tụ dần dần theo thời gian và lạm dụng thuốc kháng sinh. Vi khuẩn kháng được nhiều loại thuốc kháng sinh được gọi là đa kháng. Hiện nay, trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật tại Hoa Kỳ đã xác định được 18 loại vi trùng và nấm kháng thuốc kháng sinh và hiện đang đe dọa đến sức khỏe công cộng. Vi khuẩn kháng kháng sinh bằng cách nào? Hiện tượng kháng kháng sinh có thể xảy ra theo một trong những cơ chế sau Làm thay đổi mục tiêu tác động của thuốc trên vi khuẩn. Chẳng hạn như làm thay đổi tính chất của vi khuẩn mà thuốc sẽ bám vào để tác động. Vô hiệu hóa thuốc bằng enzim beeta lactamase. Làm giảm độ thẩm thấu của màng tế bào vi khuẩn nên thuốc không tác động được. Biểu hiện kháng thuốc kháng sinh Biểu hiện kháng kháng sinh là hiện tượng khi mầm bệnh hoặc vi khuẩn không bị tiêu diệt bởi thuốc kháng sinh, chúng vẫn tồn tại, sinh sản ra những thế hệ con cháu không có tính cảm ứng sensible với 1 hay nhiều loại thuốc kháng sinh nào đó. Kháng thuốc kháng sinh là tình trạng báo động, kháng sinh không còn khả năng tiêu diệt vi khuẩn Nguyên nhân kháng thuốc kháng sinh Kháng sinh là thuốc vô cùng quan trọng được sử dụng để chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn. Nhưng việc lạm dụng và sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý đang làm gia tăng vấn đề. Những nguyên kháng kháng sinh có thể kể đến như Thiếu sót trong quy định về chuyên môn khám chữa bệnh Nhiều bệnh truyền nhiễm chưa có đủ hướng dẫn chẩn đoán và chữa trị, hoặc đã có hướng dẫn nhưng chưa được cập nhật. Quy định sử dụng kháng sinh, làm kháng sinh đồ, xét nghiệm vi sinh chưa hoàn thiện, việc giám sát trong quá trình thực hiện tại các địa phương cũng chưa được thự hiện đầy đủ, nhất là những khu vực vùng sâu, vùng xa. Sử dụng thuốc kháng khuẩn trong chăn nuôi Kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi để thức đẩy tăng trưởng và phòng ngừa bệnh tật cho vật nuôi. Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi có thể dẫn đến vi khuẩn ở môi trường này trở nên kháng thuốc và gây ra kháng thuốc ở người. Nhận thức về thuốc kháng sinh còn hạn chế Người dân có tự mua thuốc kháng sinh dễ dàng, chỗ nào cũng mua được dẫn đến tình trạng sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi. Một bệnh lý không cần sử dụng thuốc kháng sinh những người dân vẫn sử dụng khiến cho vi khuẩn kháng thuốc. Người dân tự ý mua thuốc kháng sinh không cần sự hướng dẫn của bác sỹ Sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý Dùng quá liều, không đủ liều hoặc lạm dụng thuốc kháng sinh cũng có thể gây ra tình trạng kháng thuốc, tạo điều kiện cho các vi khuẩn kháng thuốc xuất hiện. Việc sử dụng kháng sinh để chữa trị bệnh không do nhiễm khuẩn gây ra, sử dụng kháng sinh không phù hợp với loại vi khuẩn, virus, ký sinh trùng gây ra… cũng làm tăng nguy cơ kháng thuốc. Phòng và kiêm soát các bệnh truyền nhiễm chưa hiệu quả Việc phòng và kiểm soát bệnh truyền nhiễm kém hiệu quả sẽ làm tăng sự lan truyền của vi khuẩn kháng thuốc và lây chéo. Nhất là những căn bệnh xã hội. Tác hại kháng thuốc kháng sinh Theo bác sĩ Hà Thị Huệ, hiện đang công tác tại phòng khám Đa Khoa Y Học Quốc Tế thì thuốc kháng sinh ra đời từ nhũng năm đầu của thập niên 40, đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sử y học nhân loại. Thuốc kháng sinh giúp cứu sống hàng triệu người mắc các bệnh lý nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, hiện nay tình trạng kháng thuốc kháng sinh đang gia tăng mức độ nguy hiểm ở tất cả các nơi trên thế giới. Đây là một vấn đề nan giải, hiện đang là mối quan tâm của cộng đồng vì nó gây ra những dòng khuẩn khỏe hơn, nguy hiểm hơn làm cho dịch bệnh lây lan nhanh hơn, khó chữa trị hơn và gây tốn kém, đặc biệt là cho người già, trẻ em và những người có sức khỏe hệ miễn dịch yếu làm tăng rủi ro khuyết tật, tử vong. Hậu quả của kháng thuốc kháng sinh Theo tổ chức y tế thế giới, mỗi năm trên thế giới có khoảng người tử vong do kháng kháng sinh, nếu tình trạng này không được kiểm soát, con số này có thể tăng lên 10 triệu người vào năm 2050. Tình trạng kháng thuốc kháng sinh ở việt nam Tỉ lệ kháng thuốc kháng sinh ở Việt nam Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất trên thế giới trên bản đồ kháng sinh năm 2015 của công tyt IMS Health. Đáng chú ý, mức sử dụng thuốc kháng sinh tại Việt Nam đã tăng vọt trong giai đoạn 2009 – 2015 với mức tăng gần gấp 3 so với giai đoạn 2005 – 2009. Trong đó, tình trạng bán thuốc kháng sinh không theo kê đơn tại Việt Nam chiếm tới 88% lượng kháng sinh bán tại các đô thị và 91% ở khu vực nông thôn. Chính vì vậy, tổ chức y tế thế giới WHO đã liệt kê Việt Nam vào danh sách các nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới khi tỉ lệ thuộc nhóm carbapenem đã tăng 50%, chủ yếu là vi khuẩn gram âm; còn tỉ lệ nhóm cephalosporin thế hệ thứ 3 đã tăng lên hơn 60% trên cả nước. Ngoài ra, bên phía bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng cho biết việc sử dụng thuốc tại Việt Nam trong 30 hoạt chất có chi phí nhiều nhất năm 2017 tại các bệnh viện là tỷ đồng, chiếm 40% BHYT, trong đó thuốc kháng sinh chiếm phần lớn khoảng 30% tổng chi phí thuốc. Bệnh kháng thuốc kháng sinh có nguy hiểm không? Đối với vấn đề này thì câu trả lời là có. Bởi khi mắc phải bệnh kháng thuốc kháng sainh sẽ dẫn đến việc chữa trị thuốc kháng sinh không còn tác dụng. Nguy cơ tử vong cao vì suy đa tạng, suy hô hấp, nhiễm trùng huyết… Vì vậy để việc điều trị thuốc kháng sinh có hiệu quả, tất cả các bệnh lý về vi khuẩn cần phải được bác sĩ khám và kê đơn chữa trị. Bên cạnh đó, việc lạm dụng thuốc kháng sinh còn có thể khiến người bệnh đối mặt với những hậu quả nghiêm trong như Gây ngộ độc Gây béo phì và tiểu đường Tăng nguy cơ tử vong do tiêu chảy Hệ miễn dịch suy yếu Tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư Nguyên tắc dùng thuốc kháng sinh Như vậy có thể thấy bệnh kháng thuốc kháng sinh rất nguy hiểm, bệnh cạnh việc lạm dụng thuốc kháng sinh cũng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ. Do đó, để đảm bảo an toàn khi sử dụng thuốc kháng sinh chúng ta cần lưu ý những điều sau Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm trùng. Phải chọn đúng kháng sinh và đường cho thuốc thích hợp. Phải sử dụng kháng sinh đúng liều lượng và đúng thời gian qui định. Phải biết các nguyên tắc chủ yếu về phối hợp kháng sinh. Hiện nay thì để hạn chế tình trạng này xảy ra người ta áp dụng kháng sinh đồ vào trong việc điều trị cho người bệnh. Để hiểu thêm về kháng sinh đồ là gì bạn hãy tham khảo bài cũ Kháng sinh đồ là gì? Phương pháp và mục đích làm kháng sinh đồ Trên đây là những chia sẻ của bác sỹ Hà Thị Huệ về tình hình kháng thuốc kháng sinh tại Việt Nam. Hy vọng qua bài viết này đã cung cấp được cho ban đọc có thêm được những thông tin bổ ích. Đồng thời, giúp mọi người ý thức hơn trong việc sử dụng thuốc kháng sinh để tránh những hậu quả mà thuốc kháng sinh có thể gây ra. Nguồn tham khảo Cập nhật lần cuối Bài viết liên quan Giảm ham muốn tình dục – làm sao để cải thiện?Trong cuộc sống vợ chồng hoặc các đôi tình nhân trẻ thì việc quan hệ tình dục làm tăng tình cảm đôi bên. Tuy nhiên qua thời gian dài thì cuộc yêu không còn như cũ. Bởi một trong hai đã giảm ham muốn tình dục. Có rất nhiều nguyên nhân từ chủ quan đến […] Đau bụng khi quan hệ – nguyên nhân và cách khắc phụcSau khi quan hệ chị em thường cảm thấy đau tức và khó chịu ở phần bụng. Đây có thể là dấu hiệu của rất nhiều bệnh lý gây ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống sinh hoạt của các chị em. Các chị em không nên chủ quan và bỏ qua các hiện […] Cách vệ sinh vùng kín ngày đèn đỏ sạch sẽ nhấtNgày đèn đỏ khu vực của các chị em luôn cảm thấy ẩm ướt, vùng kín lúc này nguy cơ viêm nhiễm cao hơn bình thường rất nhiều. Nếu không cẩn thận vệ sinh đúng cách hoặc làm sạch quá sẽ làm cho cô bé bị viêm nhiễm ngược lại. Dưới đây bác sỹ Hà […] Sở trường chuyên môn Viêm nhiễm phụ khoa viêm âm đạo, bệnh lý cổ tử cung, vòi trứng, buồng trứng… Tư vấn, thăm khám và điều trị bệnh lý rối loạn kinh nguyệt, rong kinh, chậm kinh, tiền mãn kinh,… Kế hoạch hóa gia đình khám tư vấn tránh thai, theo dõi, chăm sóc thai nghén… Tư vấn và thực hiện đình chỉ thai nghén an toàn cho thai dưới 12 tuần tuổi phá thai bằng thuốc và hút thai chân không… Tư vấn và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục sùi mào gà, lậu, herper sinh dục,… Tư vấn và thực hiện phẫu thuật thu hẹp tầng sinh môn, tạo hình màng ngăn âm đạo, Trình độ chuyên môn Với hơn 20 năm kinh nghiệm trong ngành Y, bác sĩ Huệ không ngừng học hỏi, nâng cao kỹ năng, trình độ; luôn tâm huyết với nghề, hết lòng vì bệnh nhân. Bác sĩ từng tham gia các chương trình đào tạo quốc gia về chuyên ngành sản phụ khoa hội nghị Sản phụ khoa Việt Pháp, đạt danh hiệu tiên tiến trong chuyên môn nhiều năm. Chức vụ bằng cấp Tốt nghiệp đại học Y Thái Nguyên Tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa I sản phụ khoa đại học Y Hà Nội Bác sĩ lâm sàng sản phụ khoa bệnh viên đa khoa Yên Bái Bác sĩ chuyên khoa Cấp I chuyên ngành Sản phụ khoa, làm việc tại các bệnh viện lớn của Thủ đô. Quá trình công tác 1993 Tốt nghiệp đại học Y thái Nguyên 1997 Tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa I chuyên Sản phụ khoa Đại học Y Hà Nội. 1997 – 2000 Công tác tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái 2000 – 2005 Cử đi học nâng cao và công tác tại một số bệnh viện lớn của Thủ đô. Bác sĩ từng tham gia các chương trình đào tạo quốc tế về chuyên ngành Sản phụ khoa hội nghị sản phụ khoa Việt Pháp…. Nhiều năm đạt lao động tiên tiến trong chuyên môn. 2006 đến nay Bác sĩ Huệ công tác tại phòng khám Đa khoa Y học Hà Nội. Thành tích đạt được Bác sĩ Hà Thị Huệ với hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Sản phụ khoa, đã đạt được rất nhiều thành tích xuất sắc trong công tác Đạt lao động tiên tiến trong nhiều năm Bác sĩ từng tham gia rất nhiều cuộc hội thảo khoa học về các bệnh lý phụ khoa ở nhiều tỉnh thành trên cả nước, bác sĩ được vinh danh là thầy thuốc xuất sắc có tâm huyết với nghề. Tổ chức Y tế Thế giới xếp Việt Nam vào nhóm các nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Từ năm 2009 đến nay, số lượng thuốc kháng sinh ở Việt Nam bán ra ngoài cộng đồng đã tăng gấp 2 lần. Nguyên nhân chính là do lạm dụng kháng sinh, có tới 88% kháng sinh tại thành thị được bán ra mà không cần kê đơn, ở nông thôn tỉ lệ lên đến 91%. Đã xuất hiện siêu vi khuẩn kháng tất cả các loại kháng sinh Tại một hội nghị của Bộ Y tế về kháng thuốc cuối tháng Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh, tình trạng kháng thuốc ngày càng trầm trọng và là mối nguy đe doạ sức khoẻ toàn cầu. Tình trạng kháng thuốc kháng sinh gây tác động lớn đến nền kinh tế, sự phát triển chung của xã hội. Không chỉ riêng đối với Việt Nam nó còn tác động đến tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay. Tình trạng kháng kháng sinh tại Việt Nam ngày càng gia tăng khi xuất hiện một vài loại siêu vi khuẩn kháng lại tất cả các loại thuốc. Tại hội nghị khoa học toàn quốc về hồi sức cấp cứu và chống độc 2017, GS Nguyễn Gia Bình – Chủ tịch Hội Hồi sức cấp cứu và Chống độc – bày tỏ lo ngại về tình trạng kháng kháng sinh tại nước ta. Theo ông, hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh đang phải đối mặt với tốc độ lan rộng của các vi khuẩn kháng nhiều nhóm kháng sinh. Trong đó tình hình kháng thuốc tại các tỉnh phía Nam nghiêm trọng hơn. Tại các khoa hồi sức tích cực, vấn đề này còn nan giải hơn, do nơi đây tập trung những bệnh nhân nặng nhất, qua nhiều khoa điều trị. Tại các tỉnh phía Nam, tỉ lệ Ecoli vi khuẩn đường ruột kháng kháng sinh lên tới 74,6%; tỉ lệ kháng của vi khuẩn gây nhiễm trùng lên tới gần 60%; vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện có tỉ lệ kháng với hầu hết các loại kháng sinh ở mức trên 90%… Với nhóm kháng sinh carbapenem, nhóm kháng sinh mạnh nhất hiện nay cũng có tỉ lệ lên tới 50%, đặc biệt là các vi khuẩn gram âm mang gen kháng thuốc như Beta lactamase. PGS-TS Lương Ngọc Khuê – Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế – cho biết, trong khi nhiều quốc gia phát triển đang còn sử dụng kháng sinh thế hệ 1 có hiệu quả thì Việt Nam đã phải sử dụng tới kháng sinh thế hệ 3 và 4. Đáng lo ngại hơn, ở nước ta đã xuất hiện một vài loại siêu vi khuẩn kháng lại tất cả các loại kháng sinh. Phổ biến nhất là nhóm vi khuẩn gram âm đường ruột. Tình trạng các bác sĩ sử dụng kháng sinh không hợp lý cũng được cảnh báo. Theo khảo sát của BV Chợ Rẫy, khoảng 50% kháng sinh được bác sĩ kê đơn bất hợp lý; 32% bác sĩ chỉ định sử dụng kháng sinh cho các bệnh nhân không nhiễm khuẩn; 33% bác sĩ sử dụng kháng sinh kéo dài và không cần thiết… Trong khi tốc độ tìm ra kháng sinh mới trên thế giới không kịp so với mức độ gia tăng của các vi khuẩn kháng kháng sinh. Trong hơn 5 năm từ 1983 – 1987, cơ quan Quản lý Dược và Thực phẩm Mỹ mới chỉ cấp giấy chứng nhận sử dụng cho 18 loại kháng sinh. Còn từ năm 2008 đến nay không có thêm kháng sinh mới nào được tìm ra. Với tình hình này, WHO dự tính đến năm 2050, cứ 3 giây sẽ có một người tử vong do các siêu vi khuẩn kháng thuốc, tương đương với khoảng 10 triệu người mỗi năm. Khi đó, các bệnh thông thường như ho hay chỉ một vết cắt cũng có thể gây tử vong. Để hạn chế tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra quyết định thành lập nhóm kỹ thuật về giám sát kháng thuốc giai đoạn từ năm 2017-2020. Nhóm sẽ có nhiệm vụ tham gia phối hợp, đánh giá, báo cáo giám sát về kháng thuốc và đưa ra các giải pháp ngăn chặn sự gia tăng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường gặp. Lo ngại kháng kháng sinh ở trẻ nhỏ Ở trẻ nhỏ, tình trạng kháng kháng sinh cũng vô cùng nghiêm trọng. Từ kết quả khám sàng lọc bệnh nhi đến khám và điều trị tại viện, PGS-TS Trần Minh Điển – Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương – cho biết có khoảng 30% bệnh nhi có vi khuẩn kháng thuốc. Một trong những nguyên nhân làm trẻ có vi khuẩn kháng thuốc là do nhiều trẻ được các ông bố bà mẹ tự ra hiệu thuốc mua thuốc điều trị với liều lượng kháng sinh không hợp lý. Thực tế thăm khám cho các bệnh nhi, PGS-TS Nguyễn Tiến Dũng – nguyên Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai – đã gặp rất nhiều trường hợp cha mẹ tự làm bác sĩ, tự ý mua thuốc điều trị cho con làm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ và gây khó khăn cho quá trình điều trị của bác sĩ. Bởi, việc cha mẹ tự ý cho trẻ dùng thuốc kháng sinh, dùng với liều lượng không thích hợp sẽ gây ra tình trạng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh. Điều này sẽ làm cho quá trình điều trị bệnh trở nên khó khăn hơn, tốn nhiều thời gian hơn và làm trẻ mệt mỏi hơn. “Để kê được đơn thuốc cho bệnh nhân, bác sĩ chúng tôi phải học hỏi, trau dồi kỹ năng rất nhiều năm. Và kể cả những người đã có kinh nghiệm cũng phải thăm khám, hỏi han triệu chứng của bệnh nhân, rồi sau đó phải đắn đo, suy nghĩ mới kê được đơn thuốc” – bác sĩ Dũng cho biết. Đồng quan điểm với bác sĩ Dũng, bác sĩ Phạm Thanh Xuân – nguyên Phó Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai – cũng cho rằng, cha mẹ áp dụng phương pháp hỏi “bác sĩ google” rồi tự ý mua thuốc điều trị bệnh là rất nguy hiểm. Không phải bệnh gì dùng thuốc kháng sinh cũng khỏi, nếu dùng không đúng sẽ nguy hại đến sức khỏe. Đặc biệt, đối với trẻ nhỏ, việc lạm dụng kháng sinh trong điều trị bệnh sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và sức khỏe của trẻ. Không thể thấy các biểu hiện của bé giống bệnh này rồi tự ý mua thuốc điều trị bệnh. Hoặc không nên thấy các mẹ khác nói con họ bị như vậy dùng thuốc này là khỏi mà nghe theo và áp dụng vào con mình. Mỗi đứa trẻ là một cá thể khác nhau, phản ứng mỗi bé một khác, yếu tố cơ địa mỗi bé một khác nên cùng một bệnh nhưng với mỗi bé lại có cách điều trị riêng. Bác sĩ Xuân lấy ví dụ trường hợp bé chỉ xuất tiết mũi họng khò khè không phải do nhiễm khuẩn. Với trường hợp này mà dùng kháng sinh thì chắc chắn bé sẽ không đỡ và sẽ tái phát theo nguyên nhân gây nên yếu tố khò khè. Và cũng là dấu hiệu khò khè, chảy nước mũi kéo dài nhưng bé có tiền sử hen phế quản thì cách điều trị lại khác với bé không bị hen phế quản. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh không hiểu biết hoặc không tuân thủ chỉ định của bác sĩ. Bên cạnh đó, tình trạng lạm dụng thuốc, không đến khám bác sĩ mà tự ý ra hiệu thuốc mua thuốc về điều trị, mua thuốc theo đơn của người khác hoặc nghe theo sự mách bảo của người khác… cũng góp phần làm gia tăng số lượng và mức độ các trường hợp dị ứng thuốc. Và hậu quả của việc lạm dụng thuốc dẫn đến kháng thuốc là làm cho thời gian điều trị bệnh kéo dài, kéo theo sử dụng nhiều kháng sinh, sẽ lại ảnh hưởng đến kinh tế, giá thành điều trị tăng cao. Đặc biệt, nhiều khuẩn kháng thuốc còn khiến nguy cơ tử vong tăng cao, nhất là với nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm khuẩn. Nguồn Báo Dân Trí Theo WHO, mối đe dọa ngày càng tăng về kháng kháng sinh ở Việt Nam bắt nguồn từ việc sử dụng kháng sinh không hợp lý ở tất cả các cấp của hệ thống chăm sóc sức khỏe, chăn nuôi và cộng đồng. Siêu vi khuẩn xuất hiệnVào một ngày chủ nhật cuối tháng 5/2016, điều mà các bác sĩ lo sợ từ lâu đã đến một bệnh nhân tại Mỹ nhiễm một chủng vi khuẩn dường như hoàn toàn kháng với các loại thuốc kháng được Washington Post miêu tả là một phụ nữ 49 tuổi, sống ở bang Pennsylvania, không hề du lịch ra khỏi Mỹ trong vòng 5 tháng gần nhất, và trong nước tiểu có chứa một chủng vi khuẩn E. coli kháng lại colistin, “loại thuốc kháng sinh mạnh cuối cùng” mà con người có thể sử là dấu hiệu cảnh báo khiến các bác sĩ trên toàn thế giới và giới chức nước Mỹ không ngừng lo sợ, bởi mặc dù bản thân E. coli không được xem là một chủng đặc biệt nguy hiểm, đồng thời sau đó bệnh nhân cũng đã hồi phục và cũng không có dấu hiệu cho thấy chủng vi khuẩn của người này biến thành một dịch bệnh, nó đã gióng lên hồi chuông về một điều khủng khiếp hơn nỗi sợ hãi rằng các gen kháng kháng sinh sẽ bắt đầu nhân rộng sang những chủng vi khuẩn khác nguy hiểm tự nhiên, vi khuẩn và nấm nguồn gốc tạo ra các loại kháng sinh đã chiến đấu với nhau từ hàng trăm triệu năm. Theo thời gian, một số vi khuẩn phát triển những cơ chế để chống lại sự tấn công của nấm, chẳng hạn như làm thành tế bào dày hơn, ít thấm hơn, tăng khả năng trung hòa các enzyme do nấm tạo ra hoặc tiết ra các chất đe dọa khả năng chống chịu của vi khuẩn đã phát triển một cách vượt bậc trong thời đại kháng sinh. Khi tiếp xúc với thuốc kháng sinh thường xuyên, liên tục, phần lớn vi khuẩn gây nhiễm trùng sẽ bị tiêu diệt nhưng một số ít sống sót và dần dần tiến hóa ra các gen chống đỡ được thuốc. Quần thể vi sinh vật ngày càng được tạo nên từ các vi khuẩn mang gen kháng thuốc – gọi là “siêu vi khuẩn”. Do có cấu tạo khá đơn giản, những vi khuẩn này dễ dàng trao đổi gen với các loại vi khuẩn khác, khiến chúng phát triển khả năng kháng nhiều loại kháng sinh thực tế, những siêu vi khuẩn như vậy đã hiện diện ở Việt Nam. Tại hội nghị khoa học toàn quốc năm 2017, một nhóm các bác sĩ đã bày tỏ lo ngại về tình trạng các cơ sở khám chữa bệnh tuyến cuối như bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Bạch Mai, Nhi Trung ương, Phổi Trung ương… đang phải đối mặt với tốc độ lan rộng của những vi khuẩn đa kháng kháng 2 nhóm kháng sinh trở lên và toàn kháng kháng với tất cả kháng sinh. Thậm chí đã có những bệnh nhân tử báo cáo, tỉ lệ kháng thuốc của nhóm vi khuẩn đường ruột ở Việt Nam đã lên tới 30-40%, kháng luôn cả kháng sinh mạnh nhất là colistin. Tại một số tỉnh phía Nam, tỉ lệ kháng thuốc của lên tới hơn 74%. Tỉ lệ kháng của vi khuẩn gây nhiễm trùng K. pneumoniae lên tới gần 60%; trong khi vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện kháng với hầu hết các loại kháng sinh ở mức trên 90%.Tổ chức Y tế Thế giới WHO xếp Việt Nam vào nhóm các nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Trong khi nhiều quốc gia phát triển đang còn sử dụng kháng sinh thế hệ một có hiệu quả thì Việt Nam đã phải sử dụng tới kháng sinh thế hệ ba và bốn.“Với những trường hợp toàn kháng, bác sĩ cũng đành bất lực, chỉ có thể giúp bệnh nhân truyền dịch, nâng cao thể trạng, tăng cường dinh dưỡng để cơ thể tự chống đỡ với vi khuẩn”, TS. Đoàn Mai Phương, khi đó làm việc tại khoa vi sinh của bệnh viện Bạch Mai, chia dụng thuốc ở cả người và động vậtNhững con số trên đã lôi vấn đề kháng kháng sinh ra khỏi bóng tối để phơi bày một thực trạng chúng ta đang sử dụng kháng sinh một cách bừa bãi. Từ năm 2009 đến nay, số lượng thuốc kháng sinh ở Việt Nam bán ra ngoài cộng đồng đã tăng hơn 2 lần. Hơn 70% kháng sinh trong nước hiện được dùng cho nông nghiệp, chăn nuôi và thú y, số còn lại là dùng cho Phạm Đức Phúc, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Y tế công cộng và Hệ sinh thái ở trường ĐH Y tế công cộng, chỉ ra 3 nguyên nhân nổi trội đang làm khả năng đột biến của vi khuẩn ở Việt Nam tăng tiên, đó là việc các bác sĩ đã kê đơn quá mức và làm dụng thuốc kháng sinh. Vì thiếu năng lực của hệ thống phòng xét nghiệm nên không phải lúc nào các bác sĩ cũng có đủ thông tin để biết được vi sinh vật mà bệnh nhân bị nhiễm có mang gen kháng thuốc hay không. Do vậy, để đối phó với bệnh nhiễm trùng chưa xác định, họ thường dùng cách tiếp cận kháng sinh “bao vây” – tức kê đơn một vài ngày, nếu không khỏi thì đổi sang kháng sinh thực tế, khảo sát của Bệnh viện Chợ Rẫy cho biết có khoảng 50% kháng sinh được bác sĩ kê đơn bất hợp lý; 32% bác sĩ chỉ định sử dụng kháng sinh cho các bệnh nhân không nhiễm khuẩn; 33% bác sĩ sử dụng kháng sinh kéo dài và không cần hai, việc quản lý thuốc kháng sinh còn khá lỏng lẻo, người dân có thể dễ dàng mua kháng sinh tại các hiệu thuốc mà không cần bác sĩ kê đơn. Tại thành thị, 88% kháng sinh được bán mà không cần kê đơn, ở nông thôn tỷ lệ này là 91%- theo thống kê của Bộ Y này đặc biệt nghiêm trọng ở trẻ em do nhiều trẻ được các ông bố, bà mẹ tự ra hiệu thuốc mua kháng sinh theo kinh nghiệm, theo lời gợi ý của người bán tại hiệu thuốc, theo đơn của người khác hay theo “bác sĩ google” – bất chấp căn bệnh đó có thực sự cần đến kháng sinh hay không. Mỗi năm, người Việt Nam tiêu thụ kháng sinh nhiều hơn gấp đôi lượng kháng sinh trung bình của người dân EU, dù có thể không ốm ba là việc sử dụng quá mức kháng sinh trong chăn nuôi với mục đích vỗ béo hoặc phòng ngừa bệnh tật. Mặc dù Bộ NN&PTNT đã đưa ra một danh sách các kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng cho chăn nuôi nhưng trên thực tế, do thiếu các cơ chế kiểm soát hiệu quả, các thương lái vẫn bán sản phẩm chứa kháng sinh trôi nổi trên thị trường để trộn vào thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản. Người chăn nuôi thường không đủ chuyên môn để biết điều này, hoặc nếu biết cũng có thể tặc lưỡi bỏ qua vì lợi ích kinh khi đó, các bác sĩ thú y vẫn chưa có một hướng dẫn cụ thể, hoàn thiện về sử dụng kháng sinh có trách nhiệm cho động vật. Do vậy, việc kiểm soát sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi thực sự đang trông chờ vào sự tự giác của các chủ trang TS. Phúc, nếu mỗi nơi chúng ta đều sử dụng kháng sinh nhiều hơn một chút thì tổng tồn dư kháng sinh trong cộng đồng sẽ cực kì lớn và tạo ra hậu quả khôn lường. “Mọi người cứ nghĩ rằng bệnh của động vật và người là tách biệt. Nhưng khi con người và động vật cùng chia sẻ các loại vi khuẩn với nhau, thì sớm hay muộn, các siêu vi khuẩn mang gen kháng thuốc cũng sẽ phát triển được khả năng lây chéo từ loài này sang loài khác. Viễn cảnh tồi tệ nhất chính là tình trạng không còn thuốc nào để chống lại vi khuẩn gây bệnh,” anh lo một sự liên kết mạnh mẽ hơnCác nhà nghiên cứu cho rằng hầu hết các giải pháp mà chúng ta dùng cho các đại dịch đều có thể áp dụng cho cuộc chiến với kháng kháng sinh. Chẳng hạn, ta phải có hệ thống giám sát và các phòng thí nghiệm đủ tiêu chuẩn để lập bản đồ theo dõi tình trạng sử dụng kháng sinh cũng như cảnh báo về sự xuất hiện của vi khuẩn kháng thuốc. Bên cạnh đó, cần tăng độ bao phủ vaccine để tránh mắc các bệnh do vi khuẩn gây nên. Ngoài ra, còn cần thực hiện an toàn sinh học và kiểm soát nhiễm trùng để ngăn vi khuẩn kháng thuốc lây lan trên diện rộng, và đầu tư vào các nghiên cứu kháng kháng sinh cũng như tác động của chúng tới kinh tế - xã hội để cung cấp thông tin đúng đắn cho các nhóm đối cấp độ quốc gia, Chính phủ và các bộ ngành có thể làm rất nhiều việc để khuyến khích sử dụng kháng sinh một cách thích hợp và có trách nhiệm. Một số người gọi đây là quản lý kháng sinh, nhưng thực sự nó chính là việc chỉ dùng kháng sinh khi chúng thật sự cần nhiều cách để đạt được điều này, chẳng hạn như thiết lập các quy định bắt buộc phải có kê đơn bác sĩ mới được sử dụng kháng sinh, cung cấp cho bác sĩ những công cụ chẩn đoán chính xác để đảm bảo rằng bệnh nhân nhiễm trùng thực sự do vi khuẩn kháng thuốc trước khi kê đơn, hoặc thực hiện các chiến dịch thông tin đại chúng về mối hiểm họa của tình trạng kháng kháng sinh cho người nhà quản lý cũng có thể thúc đẩy việc cải tiến các hệ thống sản xuất – chẳng hạn như giảm mật độ chăn nuôi và sử dụng các giống khỏe mạnh hơn – để giảm nhu cầu về kháng sinh trên động vật, hay hướng các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đầu tư vào những sản phẩm thay thế kháng sinh. Những năm gần đây, một vài công ty đã bắt tay với các trang trại bản địa để thử nghiệm những sản phẩm từ bồ công anh, tỏi, lá ổi, quế… nhằm chứng minh có thể nuôi lớn những đàn lợn, gà lớn mà không cần đưa chúng vào chế độ ăn kèm kháng nguồn tài chính từ các tổ chức quốc tế từ Mỹ, Anh cùng hỗ trợ kỹ thuật của WHO và FAO, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực Tây Thái Bình Dương thực hiện "Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc" tập trung vào sức khỏe con người giai đoạn 2013-2020 và hai lần đưa ra "Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý sử dụng kháng sinh và phòng chống kháng kháng sinh trong chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản" giai đoạn 2017-2020 và giai đoạn 2021-2025.Trong hơn 10 năm, các nhà hoạch định chính sách đã cố gắng ngăn chặn việc lạm dụng kháng sinh. Mặc dù vậy, hiệu quả đạt được chưa thực sự rõ rệt. Ngành y tế đã đặt ra mục tiêu chỉ bán kháng sinh khi có đơn thuốc vào năm 2020 nhưng hiện giờ đến năm 2022 vẫn chưa thành công. Tương tự, ngành chăn nuôi cũng dự kiến cấm sử dụng thức ăn chăn nuôi có pha trộn kháng sinh cho mục đích sinh trưởng từ năm 2018, và sẽ cấm sử dụng cho mục đích dự phòng bệnh từ năm 2020, tuy nhiên tiến trình còn đang gặp nhiều thách số bệnh viện lớn tham gia các dự án cho thấy có sự cải thiện về tỷ lệ sử dụng kháng sinh trong điều trị. Ngoài ra, không có báo cáo công khai nào về giảm sử dụng kháng sinh trong ngành nông nghiệp hoặc trong cộng các chuyên gia dịch tễ toàn cầu, “Một sức khỏe” được coi là cách tiếp cận lý tưởng nhất để chống lại các bệnh dịch và tình trạng kháng kháng sinh vì chúng đặt tất cả sức khỏe của con người, động vật và môi trường trong một mối quan tâm góc nhìn thực hành một sức khỏe ở Việt Nam, TS. Phúc nói rằng dù đã tạo được các nền tảng căn bản, chúng ta vẫn còn vướng nhiều rào cản về nguồn lực đầu tư hỗ trợ nước ngoài không thay thế được ngân sách công, chia sẻ thông tin không dễ liên thông dữ liệu giữa các dự án, phòng thí nghiệm, bệnh viện, viện trường, cơ quan, bộ ngành và tư duy tích hợp các bên ngồi lại để cùng thiết kế ra các chương trình hành động thống nhất để có thể tạo ra những liên kết đủ mạnh giải quyết vấn đề nhức nhối này.

kháng kháng sinh ở việt nam