Thuốc thú y- Vacxin. Kiên định theo con đường "an toàn sinh học", Greengroup chuyên sản xuất, kinh doanh và phân phối các loại vaccine, thuốc bổ trợ, kháng sinh, thuốc sát trùng, sản phẩm thuốc tiêm và trộn thức ăn, trị ký sinh trùng…. đảm bảo vật nuôi luôn trong vòng an toàn, mang lại hiệu quả cao cho người chăn ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP HAI LOẠI THUỐC GIÃN PHẾ QUẢN. Sự kết hợp của β 2-adrenergic với Kháng cholinergic trong điều trị các bệnh đường hô hấp tắc nghẽn dựa trên một số yếu tố. Ở mức độ cơ chế tác dụng, sự kết hợp 2 nhóm thuốc có tác dụng bổ sung cho nhau. + Hiểu biết cơ bản trong nghiên cứu, sản xuất 1 hợp chất làm thuốc, hiểu biết cơ bản về thuốc. + Các yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng sinh học của 1 hợp chất trong việc nghiên cứu, tìm kiếm thuốc mới. + Số phận của thuốc trong cơ thể. Các nhóm thuốc hạ sốt dùng cho thú y được chia làm 3 nhóm: Các dẫn xuất của salicylat, pyrazon và anilin, ngoài ra còn có thêm idol và một số thuốc khác. - Cơ chế tác dụng Các nhóm thuốc trên đều có chung cơ chế tác dụng hạ sốt. Chúng chỉ có tác dụng hạ sốt khi cơ thể vật nuôi đang bị sốt. - Tăng cường hệ thống quản lý và phân phối, kiểm soát và hạn chế sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi thú y. - Thực hiện đúng quy định của BYT: Tất cả các thuốc kháng sinh phải được kê và bán theo đơn. Nâng cao sự hiểu biết, nắm vững các nguyên tắc sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý với các cán bộ y tế. cash. Nội dung tóm tắt1 Phân loại các nhóm thuốc kháng sinh trong thú Nhóm kháng sinh thú y ức chế sự tổng hợp thành tế Nhóm kháng sinh thú y ức chế tổng hợp Nhóm kháng sinh thú y ức chế tổng hợp nhân tế Nhóm kháng sinh thú y ức chế các quá trình trao đổi chất2 Phối hợp các nhóm thuốc kháng sinh trong thú y Mục đích của phối hợp các nhóm thuốc kháng Nguyên tắc phối hợp các nhóm thuốc kháng sinh trong thú y3 Cách sử dụng nhóm thuốc kháng sinh hiệu quả trong thú Sử dụng kháng sinh sớm khi xuất hiện Dùng đủ liệu trình thuốc kháng sinh thú Lựa chọn kháng sinh thú Sử dụng liều lượng đúng và thời gian Kết hợp thuốc trợ lực thú Dừng sử dụng thuốc kháng sinh thú y trước khi giết mổ 4 Tạm kết Thuốc kháng sinh dùng trong thú y là những chất có nguồn gốc từ sinh học, giúp cho cơ thể vật nuôi chống lại là hoặc kìm hãm đi sự phát triển của vi khuẩn. Nó tác động trực tiếp ở những cấp độ phân tử, thường tạo nên một loại phản ứng gây nên sự gián đoạn quá trình phát triển của các vi khuẩn. Hiện nay, ngành chăn nuôi đã phát triển được đa dạng các nhóm kháng sinh thú y nhằm bảo vệ cho gia súc và gia cầm trước những loại dịch bệnh dễ lây lan. Cùng Việt Anh Viavet tìm hiểu thêm về các nhóm thuốc kháng sinh thú y và cách phối hợp chúng nhé ! Phân loại các nhóm thuốc kháng sinh trong thú y Có nhiều cách phân chia chủng loại thuốc kháng sinh dùng trong thú y, tuy nhiên, những chuyên gia dinh dưỡng vật nuôi thường sẽ phân chia dựa trên 4 đặc điểm chính, sẽ bao gồm Khả năng tác dụng trong diệt khuẩn và hãm khuẩn. Phổ tác dụng là phổ rộng hay phổ hẹp. Nguồn gốc là thuốc tổng hợp hay bán tổng hợp. Cơ chế hình thành tác dụng. Theo như cách phân loại dựa trên những cơ chế và tác dụng thì các nhóm kháng sinh thú y dành cho vật nuôi cũng sẽ được chia thành 4 loại chính. Nhóm kháng sinh thú y ức chế sự tổng hợp thành tế bào Loại kháng sinh này sẽ có tác dụng như diệt khuẩn thông qua cơ chế gây ra ức chế cạnh tranh trên các enzyme transpeptidase, ngăn chặn liên kết tạo nên thành của tế bào, dẫn đến quá trình tổng hợp các vách tế bào bị chặn lại và gây ra chết tế bào. Nhóm thuốc kháng sinh Beta Lactam và Glycopeptide là hai đại diện tiêu biểu cho loại thuốc kháng sinh này. Nhóm kháng sinh thú y Nhóm kháng sinh thú y ức chế tổng hợp protein Tổng hợp protein là một quá trình cần thiết để cho tế bào có thể hình thành nên sự sống, trong đó, quá trình dịch mã axit amin thành chuỗi polypeptide sẽ được coi như hoạt động cốt lõi. Các nhóm kháng sinh thú y sẽ gây ức chế đến quá trình này, khiến cho chuỗi polypeptide được tạo ra không hoàn chỉnh hay không thể nào hoàn thành. Từ đó, tế bào vi khuẩn sẽ bị tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển lại. Nhóm kháng sinh thú y ức chế tổng hợp nhân tế bào Kháng sinh sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp của nhân tế bào thường xuất phát từ cơ chế gây ra ức chế các axit nucleic. Đây là một đại phân tử sinh học, nó có mặt trong hầu hết mọi tế bào sống và giữ vững vai trò truyền đạt các thông tin di truyền. Khi axit nucleic bị ức chế và hoạt động sai thì sẽ khiến cho vi khuẩn không thể sinh sôi và tồn tại được. Do tác dụng trực tiếp đến thành phần quan trọng này khiến cho vi khuẩn có thể bị diệt hoàn toàn, tiêu biểu là nhóm Macrolid. Nhóm kháng sinh thú y ức chế các quá trình trao đổi chất Trong vòng đời phát triển của mỗi tế bào vi khuẩn còn đòi hỏi có sự góp công của axit folic. Sự thiếu vắng chất axit folic sẽ làm cho màng sinh chất đánh mất hướng hoạt động, làm tế bào không thể sinh sôi được và duy trì sự sống. Polymyxin là một nhóm thuốc kháng sinh dùng trong thú y có được khả năng phá vỡ màng tế bào, làm chết và vô hiệu hóa độc tố. Xem thêm Sản phẩm của VIETANHVIAVET Phối hợp các nhóm thuốc kháng sinh trong thú y Mỗi loại thuốc kháng sinh thú y đều sẽ mang một hiệu quả có hạn, muốn tăng khả năng kháng bệnh cho vật nuôi, người chăn nuôi cần phối hợp sử dụng thuốc kháng sinh thú ý đúng cách. Mục đích của phối hợp các nhóm thuốc kháng sinh Mở rộng cho phổ kháng khuẩn. Ngăn ngừa đi sự giảm thiểu sức đề kháng của vật nuôi. Tăng tác dụng tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh. Điều trị bệnh truyền nhiễm chưa có kết quả khám xét chính thức. Mục đích phối hợp của các nhóm thuốc kháng sinh trong thú y Nguyên tắc phối hợp các nhóm thuốc kháng sinh trong thú y Sử dụng phối hợp các nhóm kháng sinh diệt khuẩn trong thú y, giúp tăng cao hiệu quả nhưng đồng thời tỷ lệ xảy ra tác dụng phụ sẽ cao hơn. Do đó, người chăn nuôi cần tuân thủ một vài nguyên tắc phối hợp kháng sinh sau đây để không gián tiếp hại vật nuôi. – Hai loại kháng sinh nên có thành phần cùng tác dụng diệt khuẩn hoặc hãm khuẩn. Kháng sinh thú y diệt khuẩn có thể tiêu diệt các vi khuẩn bao gồm nhóm Beta Lactam, Polypeptide, Fluoroquinolon. – Kháng sinh thú y hãm khuẩn chỉ ức chế quá trình phát triển của vi khuẩn chứ không thể tiêu diệt như Tetracyclin, Macrolid, Lincosamid, Phenicol. – Khi kết hợp hai nhóm kháng sinh khác tác dụng thì dễ dẫn tới tình trạng đối kháng và phản tác dụng. – Hai nhóm kháng sinh thành phần không nên có cùng cơ chế động. Cụ thể như, khi dùng một kháng sinh tác động theo cơ chế dạng ức chế sự tổng hợp cho thành tế bào thì không nên kết hợp cùng với kháng sinh ức chế tổng hợp chất protein, việc này không chỉ không mang tới hiệu quả mà còn gây hại tiêu cực cho vật nuôi. – Hai nhóm kháng sinh thành phần sẽ không kích thích sự đề kháng. Ví dụ như, không thể phối hợp thuốc cefoxitin với penicillin, vì cefoxitin là kích thích vi khuẩn đề kháng với chất penicillin bằng cách tiết ra các enzyme phân hủy đi kháng sinh phối hợp với chúng. Cách sử dụng nhóm thuốc kháng sinh hiệu quả trong thú y Cách sử dụng thuốc kháng sinh trong thú y Sử dụng kháng sinh sớm khi xuất hiện bệnh Phải chẩn đoán đúng bệnh để có thể dùng đúng thuốc. Ngày đầu dùng thuốc thì nên dùng theo nguyên tắc dùng thuốc từ cao đến thấp, những ngày tiếp đó thì hãy sử dụng đúng như liều được chỉ định.. Dùng đủ liệu trình thuốc kháng sinh thú y Không tùy tiện đổi thuốc kháng sinh hoặc ngừng thuốc nếu chưa dùng hết liệu trình. Thường thì 1 liệu trình trị bệnh sẽ tầm từ 3 – 5 ngày, nếu bệnh chưa khỏi thì có thể kéo dài thêm nhưng không nên quá 10 ngày hoặc xong một liệu trình thì dừng một thời gian từ 5-7 ngày, sau đó thì lại dùng thêm liệu trình 2. Lựa chọn kháng sinh thú y -Nếu dùng đúng kháng sinh cho bệnh thì hiệu quả điều trị sẽ là cao. -Trong mỗi kháng sinh tổng hợp, tuy nhà sản xuất nói ngừa trị được 3 đến 5 bệnh khác nhau nhưng thực tế chỉ mang hiệu quả đối với từ 1-2 bệnh được ghi đầu tiên trên nhãn thuốc của nhà sản xuất, những bệnh còn lại chỉ có tính chất như ngừa phòng và hạn chế là chính. -Vì thế, người chăn nuôi cần thường xuyên dõi theo con vật rồi dựa vào triệu chứng để lựa kháng sinh thú y hợp lý. Sử dụng liều lượng đúng và thời gian đúng Nếu thấy không còn dấu hiệu của bệnh thì vẫn nên dùng thêm kháng sinh thú y tối thiểu 1 ngày kháng sinh để đảm bảo vật nuôi khỏi bệnh hoàn toàn, không tái bệnh cũng như tránh cho vi khuẩn gây bệnh bị nhờn thuốc. Kết hợp thuốc trợ lực thú y Nên sử dụng kháng sinh thú y phối hợp cùng thuốc trợ lực vitamin C, men tiêu hóa, chất điện giải,…chăm sóc, nuôi dưỡng thật tốt để con vật nhanh khỏi. Dừng sử dụng thuốc kháng sinh thú y trước khi giết mổ Dừng sử dụng các nhóm kháng sinh trong thú y theo như đúng hướng dẫn của nhà sản xuất, tránh gây ra tình trạng còn tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm chăn nuôi. Xem thêm Giải đáp thắc mắc về kháng sinh kanamycin trong ngành thú y Tạm kết Trong chăn nuôi, kháng sinh thú y nên được sử dụng ngay khi vật nuôi vẫn còn nhỏ để tăng thêm sức chống chọi với bệnh tật. Đặc biệt, những loài được nuôi theo đàn số lượng lớn như gà vịt thì việc dùng sớm thuốc kháng sinh thú y sẽ góp phần bảo vệ cho vật nuôi khỏi các lây lan bệnh truyền nhiễm. Thông qua bài viết này, Việt Anh Viavet hy vọng đã mang đến một số những thông tin hữu ích về các nhóm thuốc kháng sinh trong thú y. Nội dung tóm tắt1 Phối hợp thuốc kháng sinh trong thú Mục đích của phối hợp kháng Nguyên tắc phối hợp thuốc kháng sinh trong thú y2 Việc phối hợp kháng sinh nhằm 3 mục Nhóm Nhóm Nguyên tắc phối hợp Hiệu quả điều trị các bệnh do nhiễm khuẩn phụ thuộc vào Trong gần 50 năm kể từ khi được phát hiện, kháng sinh đã được sử dụng trong thức ăn chăn nuôi không chỉ với vai trò là chất kháng khuẩn mà còn là chất kích thích tăng trưởng và chất tăng cường năng suất. Nhưng hiện nay nhiều người vẫn phối hợp kháng sinh thú y sai sách. Cùng Việt Anh Viavet tìm hiểu thông qua bài viết dưới đây nhé. Phối hợp thuốc kháng sinh trong thú y Do kháng sinh loại nào cũng có tác dụng hạn chế trong việc tăng khả năng kháng bệnh cho vật nuôi nên người chăn nuôi cần phối hợp sử dụng thuốc hợp lý. Mục đích của phối hợp kháng sinh Kháng khuẩn phổ rộng. Ngăn ngừa giảm sức đề kháng. Tăng tác dụng khử trùng. Điều trị nhiễm trùng mà không có kết quả xét nghiệm chính thức. Xem thêm Thuốc bột kháng sinh uống, trộn thức ăn Nguyên tắc phối hợp thuốc kháng sinh trong thú y Sử dụng đồng thời kháng sinh trong thú y có thể giúp tăng hiệu quả nhưng cũng làm tăng tần suất tác dụng phụ. Vì vậy, người chăn nuôi cần tuân thủ một số nguyên tắc phối hợp kháng sinh trong chăn nuôi dưới đây để tránh những tác hại gián tiếp cho vật nuôi. Hai thành phần kháng sinh nên có tác dụng diệt khuẩn hoặc kìm khuẩn như nhau. Kháng sinh diệt khuẩn có thể tiêu diệt vi khuẩn bao gồm các nhóm sau beta-lactam, aminoglycoside, polypeptide, fluoroquinolones, rifamycin. Thuốc kháng sinh kìm khuẩn chỉ ức chế sự phát triển của vi khuẩn chứ không tiêu diệt được chúng. Ví dụ tetracycline, lincosamid, macrolide, fenecol. Phối hợp hai loại kháng sinh dễ gây đối kháng, tác dụng ngược. Đồng thời, các chủ đàn cần lưu ý, chỉ nên sử dụng kháng sinh kìm khuẩn khi cơ thể vật nuôi còn khỏe, kháng sinh có tác dụng làm vi khuẩn yếu đi và hệ thống đề kháng để tiêu diệt chúng là cần thiết. Kháng sinh nhị phân không nên có cùng cơ chế hoạt động. Đặc biệt khi dùng kháng sinh ức chế tổng hợp thành tế bào, kháng sinh ức chế tổng hợp protein không những không hiệu quả mà còn ảnh hưởng đến hệ miễn dịch. Kháng sinh nhị phân không kích thích kháng thuốc. Ví dụ, cefoxitin không thể kết hợp với penicillin vì nó kích thích vi khuẩn kháng penicillin bằng cách tiết ra các enzym phân hủy kháng sinh có tác dụng với penicillin. Một số kết hợp hiệu quả là beta-lactamine + aminoglycoside. glycopeptide + aminoglycoside; sulfamid + trimethoprim. Một số kết hợp cần tránh là aminoglycoside + chloramphenicol, aminoglycoside + tetracycline, quinolone + chloramphenicol. Việc phối hợp kháng sinh nhằm 3 mục đích Tăng khả năng khử trùng. Điều trị nhiều bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn. Giảm khả năng xuất hiện vi khuẩn kháng thuốc. Tuy nhiên, kháng sinh có nhiều nhóm, nhiều loại nên việc ghi nhớ cách phối hợp đúng không hề đơn giản kể cả bác sĩ. Trên thực tế, khi điều trị kháng sinh, người ta “gom” chúng thành 2 nhóm lớn Xem thêm Kháng sinh trimethoprim được sử dụng trong thú y như thế nào? Nhóm A Beta-lactam Penicillin, Ampicillin, Amoxcillin, Cephalosporin, Cephalexin, Cephalothin, Cephalor… Aminosid Streptomycin, Gentamycin, Neomycin, Kanamycin, Apramycin, Spectinomycin… Nhóm B Phenicol Chloramphenicol đã cấm sử dụng, Thiamphenicol, Florphenicol Cyclin Tetracyclin, Oxytetracyclin OTC, Chlortetracyclin CTC, Doxycycline Macrolid Erythromycin, Spiramycin, Oleandomycin, Tylosin, Tiamulin Nguyên tắc phối hợp A+A phối hợp 2 kháng sinh nhóm A hiệp đồng tăng tác dụng; điển hình dương vật + liên cầu B + B phối hợp 2 kháng sinh nhóm B không hiệp đồng, không đối kháng, chỉ 1 tác dụng “mạnh ai nấy làm” A+B phối hợp 1 kháng sinh nhóm A và 1 kháng sinh nhóm B đối kháng mất tác dụng Dung môi và tá dược cũng là những yếu tố quan trọng, nên với những người chưa có kinh nghiệm nên sử dụng kháng sinh và sulfonamid do nhà sản xuất điều chỉnh. Ví dụ Shotapen LA – Virbac Peni + Strep, Codexin – Bio Ampi + Colistin, Septryl 240 – Minh Dung Sulfamethoxypyridazine + Trimethoprim, Genta-Tylo, Linco-Spec, Amox-Genta, Ampi-Kana, Tylo -Spec, DOC OTC + Colistin + Dexha, Sone CTC + Thiam + Dexha… Sử dụng đồng thời kháng sinh đồng nghĩa với việc sử dụng nhiều loại kháng sinh hơn, dẫn đến tăng chi phí điều trị và hơn hết là tỷ lệ mắc các tác dụng phụ liên quan đến thuốc cũng cao hơn. Chúng ta cần xác định một số trường hợp cần phối hợp kháng sinh cho vật nuôi. Chúng có thể được liệt kê như thế này Nhiễm trùng do nhiều loại vi khuẩn ví dụ áp xe não, đôi khi cần phối hợp 3 loại kháng sinh đặc biệt vancomycin + cefotaxime + metronidazole. Sốc nhiễm trùng hoặc nhiễm trùng nặng Đang chờ kết quả xét nghiệm thường là kết hợp beta-lactam + aminoside. Nhiễm trùng giảm bạch cầu hoặc suy giảm miễn dịch có thể phải dùng tobramycin + ticarcillin. Viêm nội tâm mạc penicillin + aminosides hoặc quản lý kháng thuốc vancomycin + aminosides. Bệnh lao, bệnh brucella điều trị bệnh lao thường phải phối hợp 3 loại kháng sinh. Nhiễm trùng với một số vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, Enterobacter, Serratia, Citrobacter, Listeria, Enterococcus. Các vi khuẩn này dễ dàng đột biến và phát sinh chủng kháng thuốc ví dụ khi dùng ceftazidime + amikacin để điều trị Pseudomonas aeruginosa. Khi dùng kháng sinh phải dùng phối hợp với các loại kháng sinh khác. Loại kháng sinh này rất dễ bị kháng khi dùng đơn độc rifampicin, acid fusidic, fosfomycin. Hai kháng sinh phối hợp phải có cùng tác dụng, cùng tác dụng kìm khuẩn hoặc cùng tác dụng diệt khuẩn. Kiềm khuẩn kìm khuẩn, kìm khuẩn, kìm khuẩn hay còn gọi là kìm khuẩn là đặc tính của kháng sinh chỉ ức chế sự phát triển của vi khuẩn chứ không thể tiêu diệt chúng. Đặc tính diệt khuẩn là đặc tính của kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn. Kháng sinh diệt khuẩn chỉ dùng khi cơ thể còn khoẻ. Điều này là do thuốc ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn, làm chúng yếu đi và hệ thống phòng thủ của cơ thể đảm nhận nhiệm vụ tiêu diệt chúng. Nếu nhiễm trùng nặng, việc sử dụng kháng sinh diệt khuẩn là rất cần thiết, vì nó làm cơ thể yếu đi. Không kết hợp kháng sinh kìm khuẩn và diệt khuẩn. Điều này dẫn đến tác dụng đối kháng. Ví dụ, kháng sinh nhóm beta-lactam gồm cephalexin và amoxicillin ngăn chặn quá trình tổng hợp vỏ vi khuẩn, tiêu diệt và tiêu diệt vi khuẩn không có vỏ bọc, chỉ phát huy tác dụng diệt khuẩn này khi vi khuẩn còn tốt. Khi kết hợp kháng sinh beta-lactam với kháng sinh kìm khuẩn như tetracycline, chloramphenicol… thì beta-lactam đối kháng không còn được coi là có hiệu quả. Ribosome bị trơ vì nó ảnh hưởng đến bộ phận giúp tổng hợp protein cho sự phát triển và sinh trưởng của cơ thể vi khuẩn. Vi khuẩn không chết, nhưng chúng ngừng phát triển và ngừng tổng hợp lớp vỏ là mục tiêu tác động của beta-lactam. Một vài trường hợp đặc biệt nên được đề cập ở đây. Kháng sinh nhóm aminoside streptomycin, gentamicin, kanamycin, tác động lên ribosome nhưng có tác dụng diệt khuẩn chứ không kìm khuẩn như tetracycline. Do đó, có thể kết hợp thuốc beta-lactam với axit amin. Thuốc kháng sinh Cotrim co-trimoxazole, còn được biết đến với tên thương hiệu phổ biến Bactrim thực sự là sự kết hợp của hai loại kháng sinh. Sulfamethoxazole là sulfamid và một loại kháng sinh khác là trimethoprim. Sulfamethoxazole và trimethopurine là hai loại kháng sinh kìm khuẩn nhưng khi phối hợp trong Cotrim sẽ có tác dụng hiệp đồng trong việc diệt khuẩn. Erythromycin được coi là kháng sinh kìm khuẩn vì tác dụng lên ribosom của vi khuẩn, nhưng khi dùng ở nồng độ cao trong máu lại có tác dụng diệt khuẩn. Do đó, erythromycin đôi khi được kết hợp với kháng sinh diệt khuẩn. Nếu chưa rõ, tôi thắc mắc về chỉ định phối hợp Erythromycin với Cotrim Cotrim đã nói ở trên, phối hợp 2 loại kháng sinh tạo ra tác dụng diệt khuẩn, thường chỉ dùng Cotrim là đủ. Các bác sĩ vẫn sử dụng nó với các loại kháng sinh khác đặt câu hỏi ngay cả với sự kết hợp do Việt Nam sản xuất có tên là Eribactrim và Sulfericin. Hai kháng sinh phối hợp không cùng cơ chế tác dụng hoặc không cùng gây độc trên các cơ quan Ví dụ, không nên phối hợp hai beta-lactam vì chúng có tác dụng như nhau trên màng tế bào vi khuẩn. Cũng không nên kết hợp hai loại kháng sinh từ cùng một nhóm aminoside. Cùng nhóm gây giảm thính lực và suy thận nặng nhưng không làm tăng hiệu quả điều trị. Sử dụng hai loại kháng sinh cùng nhau không kích thích kháng thuốc Ví dụ, không kết hợp cefoxitin và penicillin. Cefoxitin khi kết hợp với penicillin sẽ kích thích vi khuẩn kháng penicillin bằng cách tiết ra các enzym phân hủy kháng sinh. Những điều đã nói ở trên minh họa lý do tại sao chỉ nên sử dụng thuốc kháng sinh khi được bác sĩ thú y hướng dẫn và kê đơn. Có nhiều vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc kháng sinh, bao gồm cả việc phối hợp kháng sinh, sự kết hợp này hoàn toàn tương ứng với nguyên tắc kết hợp hai loại kháng sinh cùng loại diệt khuẩn Xin lưu ý rằng sự kết hợp này có thể gây hại . Liên quan đến vấn đề phối hợp penicillin và streptomycin không vi phạm nguyên tắc phối hợp kháng sinh nhưng hiện nay streptomycin là kháng sinh rất hạn chế chỉ được dùng như một loại thuốc chống lao nên không nên dùng phối hợp, khuyến cáo, có nhiều loại kháng sinh mới dùng đơn lẻ hiệu quả hơn loại phối hợp này. Hiệu quả điều trị các bệnh do nhiễm khuẩn phụ thuộc vào Phát hiện bệnh kịp thời sớm; Chẩn đoán chính xác đúng bệnh; Sử dụng kháng sinh đúng nguyên tắc chọn kháng sinh đúng tác nhân gây bệnh, đúng liều lượng, đúng liệu trình; nâng đỡ, hỗ trợ, chăm sóc. Hy vọng những thông tin chúng tôi cung cấp hữu ích đối với bạn, và bạn đọc đã nắm được thông tin về cách phối hợp kháng sinh thú y, một số nguyên tắc cũng như mục đích phối hợp. Phối Hợp Kháng Sinh Vừa qua mình thấy những người làm chuyên môn thú y bán thuốc cho người chăn nuôi mà phối hợp rất nhiều loại thuốc kháng sinh nhiều gói nhưng cuối cùng là đối kháng giữa các nhóm kháng sinh nên hiệu quả điều trị lại không như mong muốn, dẫn tới tăng chi phí trong chăn nuôi. Tôi đã tổng hợp và viết ra một sơ đồ về nguyên tắc phối hợp kháng sinh mọi người hãy nghiên cứu nhé! Dễ lắm in ra và khi cần bỏ ra tra còn ai học thuộc được thì tốt quá Sự phối hợp kháng sinh phải nhằm đạt 3 mục đích Mở rộng phổ kháng khuẩn. Loại trừ nguy cơ xuất hiện chủng đề kháng. Đạt được tác dụng diệt khuẩn nhanh và mạnh. Phối hợp kháng sinh làm số kháng sinh cần sử dụng nhiều hơn đưa đến giá cả điều trị tăng cao và nhất là tỷ lệ bị tác dụng phụ do thuốc nhiều hơn nên cần thận trọng và cân nhắc tối đa. Nên khu trú một số trường hợp cần phối hợp kháng sinh, có thể kể như sau Khi bị nhiễm nhiều loại vi khuẩn như bị áp-xe não, viêm màng não có khi phải phối hợp 3 loại kháng sinh. Sốc nhiễm khuẩn hoặc nhiễm khuẩn nặng trong khi chờ kết quả xét nghiệm cấy vi khuẩn, kháng sinh đồ thường phối hợp beta-lactam + aminosid. Nhiễm khuẩn giảm bạch cầu hoặc bị suy giảm miễn dịch có khi phải phối hợp tobramycin + ticarcillin. Viêm nội tâm mạc. Lao, brucellose. Nhiễm loại vi khuẩn đặc biệt pseudomonas aeruginosa, enterobacter, serratia, citrobacter, listeria, enterococcus do các loại vi khuẩn này rất dễ đột biến tạo chủng đề kháng nên cần phối hợp nhiều kháng sinh vì nếu dùng một loại kháng sinh rất dễ bị đề kháng. Nguyên tắc phối hợp kháng sinh Hai kháng sinh phối hợp nên cùng nhóm tác dụng, hoặc cùng có tác dụng kìm khuẩn hoặc cùng có tác dụng diệt khuẩn. Phối hợp hai kháng sinh cùng nhóm tác dụng cùng kìm khuẩn hoặc cùng diệt khuẩn tạo ra sức mạnh tổng hợp synergism, trái lại phối hợp kháng sinh thuộc 2 nhóm tác dụng khác nhau kìm khuẩn với diệt khuẩn và ngược lại sẽ tạo ra sự đối kháng antagonism. Không phối hợp kháng sinh kìm khuẩn và kháng sinh diệt khuẩn vì sẽ đưa đến hiệu ứng đối kháng. Lấy ví dụ, kháng sinh nhóm beta-lactam trong đó có cefalexin và amoxicillin có tác dụng diệt khuẩn do ngăn chặn sự tổng hợp lớp vỏ bao bọc của vi khuẩn, vi khuẩn không có vỏ bọc cơ thể nó sẽ vỡ tung xem như bị tiêu diệt, và tác dụng diệt khuẩn này chỉ phát huy khi vi khuẩn còn có sự phát triển tốt, tổng hợp được lớp vỏ. Nếu phối hợp kháng sinh beta-lactam với một kháng sinh có tác dụng hãm khuẩn như tetracyclin, cloramphenicol... xem như beta-lactam bị đối kháng không còn tác dụng. Bởi vì kháng sinh hãm khuẩn thường tác động đến ribosom một bộ phận trong cơ thể vi khuẩn giúp nó tổng hợp protein để phát triển, tăng trưởng làm ribosom không hoạt động tức là làm cho vi khuẩn không còn phát triển, tuy không chết nhưng ngưng phát triển, không tiếp tục tổng hợp lớp vỏ bọc là đích tác dụng mà beta-lactam tác động vào. Hai kháng sinh phối hợp không thuộc cùng một cơ chế tác dụng hoặc không gây độc trên cùng một cơ quan. Ví dụ như không nên phối hợp hai beta-lactam vì cùng tác động trên vỏ của tế bào vi khuẩn hoặc không phối hợp hai kháng sinh cùng nhóm aminosid vì nhóm aminosid gây độc đối với tai và thận, nếu phối hợp hai kháng sinh cùng nhóm aminosid sẽ làm điếc và suy thận trầm trọng trong khi hiệu quả trị bệnh lại không tăng. Hai kháng sinh phối hợp không kích thích sự đề kháng của vi trùng. Ví dụ như không phối hợp cefoxitin với penicillin vì cefoxitin kích thích vi khuẩn đề kháng với penicillin bằng cách tiết ra enzym phân hủy kháng sinh phối hợp với nó. Kháng sinh nhóm aminosid như streptomycin, gentamycin, kanamycin... tuy tác động vào ribosom nhưng lại có tác dụng diệt khuẩn chứ không có tác dụng kìm khuẩn như tetracyclin. Vì vậy, có thể phối hợp thuốc nhóm beta-lactam với nhóm aminosid. Kháng sinh cotrim còn gọi là cotrimoxazol, biệt dược thông dụng là bactrim thực sự là thuốc phối hợp hai kháng sinh sulfamethoxazol là một sulfamid với một kháng sinh khác là trimethoprim. Sulfamethoxazol và trimethoprin là hai kháng sinh thuộc nhóm kìm khuẩn nhưng khi phối hợp trong Cotrim thì lại đạt được tác dụng hiệp đồng synergism là diệt khuẩn. Erythromycin được xem là kháng sinh kìm khuẩn vì tác động trên ribosom của vi khuẩn nhưng nếu khi dùng, đạt được nồng độ thuốc trong máu cao sẽ có tác dụng diệt khuẩn. Vì vậy, có khi erythromycin được phối hợp với kháng sinh diệt khuẩn. Nếu không rõ điều vừa kể, ta sẽ thắc mắc đối với chỉ định phối hợp erythromycin với cotrim cotrim như đã trình bày, phối hợp sẵn hai kháng sinh đạt được tác dụng diệt khuẩn, trong nhiều trường hợp chỉ dùng một mình cotrim đủ để trị bệnh nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, có một số nhà điều trị vẫn phối hợp nó với kháng sinh khác, thậm chí thắc mắc với thuốc đã phối hợp sẵn do Việt Nam sản xuất có tên erybactrim, sulferycin. Đối với thắc mắc về sự phối hợp cephalexin hoặc amoxicillin với cotrim, sự phối hợp này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc phối hợp hai kháng sinh cùng loại diệt khuẩn chỉ có vấn đề cần xem xét là sự phối hợp này có thật sự cần thiết hay không. Còn vấn đề phối hợp penicillin và streptomycin, tuy không trái với nguyên tắc phối hợp kháng sinh nhưng được khuyến cáo không nên dùng bởi vì streptomycin hiện nay là loại kháng sinh được khuyên dùng rất hạn chế chỉ dùng làm thuốc kháng lao, thay vì phối hợp ta đã có nhiều kháng sinh mới dùng đơn độc đạt hiệu quả hơn so với sự phối hợp này. Những điều trình bày ở trên cho thấy lý do vì sao có khuyến cáo chỉ sử dụng kháng sinh khi có chỉ định và hướng dẫn của thầy thuốc điều trị. Bởi vì có nhiều vấn đề liên quan đến sử dụng kháng sinh chỉ có người có thầy thuốc am tường, trong đó có vấn đề phối hợp kháng sinh. Một số nhóm kháng sinh quan trọng Là nhóm kháng sinh đầu tiên được phát hiện ra. Ban đầu penicillin được chiết xuất từ nấm penicillium notatum. Bây giờ penicillin được tổng hợp nhiều từ một số loại hóa chất khác. Các dòng penicillin gồm có Penicillin G và penicillin V là 2 loại được tổng hợp lần đầu tiên. Aminopenicillin là penicillin bán tổng hợp gồm có ampicillin, amoxillin... Các penicillin kháng enzyme penicillinase như oxacillin, methicillin, chloxacillin... Penicilin chuyên dùng để điều trị vi khuẩn nhóm pseudomonas như piperacillin, cacbercillin, ticarcillin. Các penicillin kết hợp chất ức chế enzyme βlactamase Augmentine, amoxiklav... Gồm 4 thế hệ I, II, III, IV. Thế hệ I, II chủ yếu để điều trị các vi khuẩn Gram+; thế hệ III, IV chủ yếu để điều trị vi khuẩn Gram-. Tetracyclin, oxytetracycline, chlorotetracycline, doxycyclin... có hoạt phổ rộng các vi khuẩn Gram + và Gram-, Rickettsia, Xoắn khuẩn,... Chỉ định điều trị bằng cách kết hợp với các kháng sinh khác để điều trị các bệnh Brucella, tả, sốt định kỳ, lậu cầu, giang mai, viêm đường tiêu hoá, sốt rét,... Erythromycin, spiramycin, azthromycin, rovamycin, tylosin... Là kháng sinh có hoạt phổ kháng khuẩn rộng, tác dụng mạnh hơn trên gram âm, nhóm này hầu hết được thải trừ qua thận. Độc tính trên thận gây hoại tử ống thận cấp và thính giác gây ù tai, điếc nếu dùng kéo dài. Các thuốc của nhóm như gentamycin, novomycin......các thuốc này hầu hết không hấp thu qua đường tiêu hóa, nếu dùng điều trị nhiễm khuẩn toàn thân thì phải dùng dạng tiêm Như Lincocine... Nhóm quinolon ciprofloxacin, ciprofloxacin-d8, oxolinic acid, danofloxacin, enrofloxacin, difloxacin, sarafloxacin, ofloxacin, norfloxacin... Có từ nguồn gốc vi sinh, có phổ tác dụng rộng, chủ yếu trên vi khuẩn Gram-, theo nguồn gốc vi sinh có thể chia ra Thuốc chiết xuất từ nấm Streptomyces Streptomicin, Dihydrostreptomycin, Kanamycin, Neomycin, Paromomycin,... Thuốc chiết xuất từ Microspora Gentamicin, Sisimicin,... Sau này, khi thay đổi cấu trúc của các hợp chất tự nhiên nói trên, người ta thu được các thuốc bán tổng hợp như Amikacin, Netilmicin, Dibekacin,... Các Chloramphenicol Phenicol Nhóm này bao gồm 02 kháng sinh Chloramphenicol thường được gọi là Chlorocid, được phân lập từ nấm Streptomyces Venezaclae, nay sản xuất bằng phương pháp tổng hợp toàn phần. Có tác dụng điều trị bệnh thương hàn và sốt phát ban do Rickettsia là tác nhân truyền bệnh rận, chấy Thiamphenicol là dẫn chất của Chloramphenicol, khi thay thế gốc Nitro bằng gốc Metylsulfon, dung nạp tốt hơn Chloramphenicol.... Nội dung tóm tắt1 * Bạn biết gì về kháng sinh2 – Phân loại kháng – Dựa vào khả năng tác – Dựa vào phổ tác – Dựa theo nguồn – Dựa vào cơ chế tác – Phân loại kháng sinh tổng hợp3 * Nguyên tắc phối hợp kháng sinh4 * Một số sản phẩm trên thị trường Việc sử dụng kháng sinh trong ngành thú y ngày càng trở nên phổ biến hơn với mục đích dự phòng và điều trị các bệnh liên quan đến nhiễm khuẩn trên gia súc, gia cầm. Tuy nhiên hiện nay trên thị trường có khá nhiều loại thuốc kháng sinh, với những chỉ định và cách dùng khác nhau. Để bà con và quý độc giả có được thông tin tổng quan nhất về kháng sinh, hãy theo dõi ngay bài viết sau Mục lục * Bạn biết gì về kháng sinh – Phân loại kháng sinh – Dựa vào khả năng tác dụng – Dựa vào phổ tác dụng – Dựa theo nguồn gốc – Dựa vào cơ chế tác dụng – Phân loại kháng sinh tổng hợp * Nguyên tắc phối hợp kháng sinh * Một số sản phẩm trên thị trường * Bạn biết gì về kháng sinh Kháng sinh là các chất có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt sự phát triển của vi khuẩn. Về nguồn gốc, kháng sinh được chiết xuất từ các vi sinh vật, nấm hoặc xạ khuẩn hoặc thông qua quá trình tổng hợp hoặc bán tổng hợp hóa học. Sau khi đi vào cơ thể và vào được các tế bào, kháng sinh sẽ được đưa tới đích tác động là các thành phần cấu tạo cơ bản của tế bào vi khuẩn và phát huy tác dụng kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn từ đó điều trị các bệnh lý do vi khuẩn gây ra. – Phân loại kháng sinh Để phân loại được kháng sinh hiện nay có khá nhiều cách, có thể dựa vào cơ chế tác dụng, công thức cấu tạo, hoặc nguồn gốc,…. dưới đây là một số cách phân loại kháng sinh bạn có thể cập nhật. – Dựa vào khả năng tác dụng Gồm 2 loại kháng sinh là kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn và kháng sinh có tác dụng kìm khuẩn. Kháng sinh diệt khuẩn sẽ hủy hoại vĩnh viễn các loại vi khuẩn như một số kháng sinh B-lactamin, aminoglucozid, colistin, bacitracin,… Kháng sinh có tác dụng kìm khuẩn sẽ ức chế sự phát triển của vi khuẩn như tetracyclin, lincosamis, macrolid…. Tuy nhiên trên thực tế cũng sẽ có một số kháng sinh có tác dụng kìm khuẩn ở nồng độ thấp và diệt khuẩn ở nồng độ cao. – Dựa vào phổ tác dụng Các kháng sinh có phổ tác dụng hẹp như các penicilin tự nhiên, streptomycin. Các kháng sinh có phổ tác dụng rộng, có khả năng tác động trên cả vi khuẩn gram +, -, đơn bào, virus như tetrecyclin, chloramphenicol, các imidazol… Nhóm kháng sinh đường tiêu hóa dùng trị bệnh nhiễm khuẩn trong ống tiêu hóa. Nhóm thuốc này không được hấp thu qua ống tiêu hóa sulphaguanidin, suphaquinosalin, streptomycin uống,… Nhóm kháng sinh chống lao, kháng sinh trị nấm,…. – Dựa theo nguồn gốc Kháng sinh được tổng hoặc bán tổng hợp từ các hóa dược Kháng sinh có nguồn gốc từ vi sinh vật, xạ khuẩn, nấm – Dựa vào cơ chế tác dụng Kháng sinh ức chế sự tổng hợp của thành tế bào Với cơ chế tác động diệt khuẩn thông qua ức chế cạnh tranh các enzym transpeptidase do đó làm ngăn chặn các liên kết tạo nên thành tế bào, dẫn đến quá trình tổng hợp vách tế bào của vi khuẩn bị chặn lại và tế bào vi khuẩn sẽ chết. Nhóm này bao gồm 2 kháng sinh thường được sử dụng là Beta lactam và Glycopeptid. Kháng sinh ức chế sự tổng hợp protein Ức chế quá trình tổng hợp Protein khiến chuỗi polypeptide được tạo thành không hoàn chỉnh hay không thể hoàn vậy, tế bào vi khuẩn bị tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển. Lincosamid, Cloramphenicol và Aminoglycoside là các kháng sinh tiêu biểu của nhóm này và sẽ có tác dụng diệt khuẩn nếu sử dụng ở nồng độ cao – Kháng sinh ức chế tổng hợp nhân tế bào Kháng sinh ức chế tổng hợp nhân tế bào Do tác động lên quá trình tổng hợp nhân tế bào- axit nucleic đại phân tử sinh học có vai trò truyền đạt thông tin di truyền khiến cho vi khuẩn không thể phát triển và tồn tại. Vì vậy các kháng sinh nhóm này thường có tác dụng diệt khuẩn với đại diện là nhóm Macrolide. Kháng sinh ức chế các quá trình trao đổi chất như acid folic làm cho màng sinh chất mất phương hướng hoạt động do đó tế bào không thể phát triển và duy trì sự sống. Polymycin là kháng sinh tiêu biểu của nhóm này bạn có thể biết. – Phân loại kháng sinh tổng hợp Ngoài các cách phân loại trên, hiện nay dựa vào công thức, nguồn gốc, cơ chế tác dụng, các tác dụng, các thuốc kháng sinh hiện nay có thể được phân loại tổng hợp thành các nhóm sau Nhóm B-lactamin gồm các penicilin và cephalosporin Nhóm amynoglucozit Nhóm macrolid, gồm macrolid thực thụ và các macrilid họ hàng lincosamid, rifamicin, vancomycun, novobion,… Nhóm phenicol Nhóm tetracyclin Nhóm kháng sinh đa peptid Nhóm kháng sinh chống nấm Nhóm thuốc hóa học trị liệu có cơ chế tác dụng như kháng sinh. Gồm nhóm quinolin, 5-nitroidazol, nitrofusan, các sulphamid và những thuốc có tác dụng kìm hãm virus. * Nguyên tắc phối hợp kháng sinh Quá trình sử dụng kháng sinh trong thú y hoàn toàn có thể sử dụng độc lập cũng đã có thể đem lại hiệu quả điều trị. Tuy nhiên trong một số trường hợp cần phối hợp sử dụng 2 hoặc nhiều loại kháng sinh với nhau để tăng hiệu quả điều trị cho vật nuôi và hạn chế hiện tượng kháng thuốc. Dưới đây là một số nguyên tắc phối hợp kháng sinh trong ngành thú y bạn cần biết để có thể đạt hiệu quả cao và an toàn cho vật nuôi. Phối hợp 2 kháng sinh nhóm diệt khuẩn để tăng cường tác dụng. Một số kháng sinh nhóm diệt khuẩn Beta Lactam, Aminoglycosid, Polypeptide, Fluoroquinolon, Rifamycin. Phối hợp 2 kháng sinh nhóm kìm khuẩn đem lại tác dụng cộng dồn Kháng sinh hãm khuẩn vi khuẩn như Tetracyclin, Lincosamid, Macrolid, Phenicol. Không phối hợp kháng sinh kìm khuẩn và kháng sinh diệt khuẩn với nhau vì sẽ sinh ra tác dụng đối kháng. Ví dụ sự kết hợp hợp giữa kháng sinh Penicillin hoặc Ampicillin với Tetracyclin/Macrolid hoặc Quinolon và Chloramphenicol * Một số sản phẩm trên thị trường Hiện nay trên thị trường có một số lượng lớn các chế phẩm kháng sinh dạng đơn kháng sinh hoặc phối hợp nhiều loại kháng sinh để đem lại hiệu quả cho quá trình sử dụng. Bạn có thể tham khảo một số sản phẩm sau Sản phẩm đơn kháng sinh Viamoxyl Amoxicilin, Apracoli Apramycin, Viaquino 25 Enroflocaxin,… Sản phẩm phối hợp kháng sinh Amoxicillin + Gentamicin, Các sản phẩm trên dước sản xuất bởi công ty thuốc thú y Việt Anh Viavet là một trong những công ty sản xuất thuốc thú y tại Việt Nam đầu tiên đạt tiêu chuẩn GMP. Với cam kết đưa sản phẩm chất lượng tốt nhất đến cho bà con trong quá trình chăn nuôi, các sản phẩm từ Viavet xin cam kết về chất lượng và uy tín. Hy vọng rằng với các kiến thức về thuốc kháng sinh được cung cấp từ bài viết bà con sẽ có thêm nhiều thông tin hữu ích sử dụng trong quá trình chăn nuôi Bảng nguyên tắc phối hợp kháng sinh trong Thú y Việc phối hợp kháng sinh nhằm 3 mục đích Tăng khả năng diệt khuẩn. Điều trị trường hợp nhiễm nhiều loại vi khuẩn. Giảm khả năng xuất hiện chủng vi khuẩn đề kháng. Tuy nhiên, kháng sinh có nhiều nhóm, nhiều loại nên việc nhớ để phối hợp đúng là điều không dễ dàng kể cả bác sĩ y khoa. Thực tế trong công tác điều trị, người ta “gom” kháng sinh làm 2 nhóm lớn Nhóm A Beta-lactam Penicillin, Ampicillin, Amoxcillin, Cephalosporin, Cephalexin, Cephalothin, Cephalor… Aminosid Streptomycin, Gentamycin, Neomycin, Kanamycin, Apramycin, Spectinomycin… Nhóm B Phenicol Chloramphenicol đã cấm sử dụng, Thiamphenicol, Florphenicol Cyclin Tetracyclin, Oxytetracyclin OTC, Chlortetracyclin CTC, Doxycycline Macrolid Erythromycin, Spiramycin, Oleandomycin, Tylosin, Tiamulin Nguyên tắc phối hợp A+A phối hợp 2 kháng sinh cùng trong nhóm A tác dụng hiệp đồng tăng tác dụng; Ví dụ điển hình Peni + Strep B+B phối hợp 2 kháng sinh cùng trong nhóm B không hiệp đồng, không đối kháng, chỉ tác dụng đơn thuần “việc ai nấy làm” A+B phối hợp 1 kháng sinh nhóm A & 1 kháng sinh nhóm B tác dụng đối kháng mất tác dụng Dung môi hòa tan, tá dược… là những yếu tố không kém phần quan trọng nên khuyến cáo đối với người chưa có kinh nghiệm là nên sử dụng kháng sinh, sulfamid đã được các nhà sản xuất phối hợp sẵn. Ví dụ Shotapen LA – Virbac Peni + Strep, Codexin – Bio Ampi + Colistin, Septryl 240 – Minh Dũng Sulfamethoxypyridazin + Trimethoprim, Genta-Tylo, Linco-Spec, Amox-Genta, Ampi-Kana, Tylo-Spec, DOC OTC + Colistin + Dexa, Sone CTC + Thiam + Dexa… Vì phối hợp kháng sinh có nghĩa số kháng sinh dùng nhiều hơn đưa đến giá cả điều trị tăng cao và nhất là tỷ lệ bị tác dụng phụ do thuốc nhiều hơn nên sự phối hợp đòi hỏi thận trọng và cân nhắc tối đa. Cần khu trú một số trường hợp cần phối hợp kháng sinh, có thể kể như sau Khi bị nhiễm nhiều loại vi khuẩn như bị áp-xe não có khi phải phối hợp 3 loại kháng sinh thuộc loại đặc biệt vancomycin + cefotaxim + metronidazol. Sốc nhiễm khuẩn hoặc nhiễm khuẩn nặng chờ kết quả xét nghiệm thường phối hợp beta–lactam + aminosid. Nhiễm khuẩn giảm bạch cầu hoặc bị suy giảm miễn dịch có khi phải phối hợp tobramycin + ticarcillin. Viêm màng trong tim penicillin + aminosid hoặc đối phó với đề kháng vancomycin + aminosid. Lao, brucellose điều trị lao thường phải phối hợp 3 kháng sinh. Nhiễm loại vi khuẩn đặc biệt pseudomonas aeruginosa, enterobacter, serratia, citrobacter, listeria, enterococcus do các loại vi khuẩn này rất dễ đột biến tạo chủng đề kháng như trị có khi dùng ceftazidim + amikacin. Khi dùng loại kháng sinh cần phải phối hợp với kháng sinh khác vì nếu dùng một mình kháng sinh này rất dễ bị đề kháng rifampicin, acid fusidic, fosfomycin. Hai kháng sinh phối hợp nên cùng loại tác dụng, hoặc cùng có tác dụng hãm khuẩn hoặc cùng có tác dụng diệt khuẩn – Hãm khuẩn còn được gọi kìm khuẩn, tĩnh khuẩn, trụ khuẩn hay “ngưng trùng”, bacteriostatic là đặc tính của loại kháng sinh chỉ ức chế sự phát triển của vi khuẩn chứ không tiêu diệt. – Diệt khuẩn bactericidal là đặc tính của kháng sinh có khả năng tiêu diệt vi khuẩn. Ta chỉ dùng kháng sinh hãm khuẩn trong trường hợp cơ thể còn sức, vì thuốc chỉ làm vi khuẩn ngưng phát triển, yếu đi và hệ thống đề kháng của cơ thể sẽ làm nhiệm vụ tiêu diệt chúng. Nếu bị nhiễm khuẩn nặng, cơ thể bị suy yếu, bắt buộc phải dùng kháng sinh diệt khuẩn. Không phối hợp kháng sinh hãm khuẩn và kháng sinh diệt khuẩn vì sẽ đưa đến hiệu ứng đối kháng. Ví dụ kháng sinh nhóm beta-lactam trong đó có cefalexin và amoxicillin có tác dụng diệt khuẩn do ngăn chặn sự tổng hợp lớp vỏ bao bọc của vi khuẩn, vi khuẩn không có vỏ bọc cơ thể nó sẽ vỡ tung xem như bị tiêu diệt, và tác dụng diệt khuẩn này chỉ phát huy khi vi khuẩn còn có sự phát triển tốt, tổng hợp được lớp vỏ. Nếu phối hợp kháng sinh beta–lactam với một kháng sinh có tác dụng hãm khuẩn như tetracyclin, cloramphenicol… xem như beta–lactam bị đối kháng không còn tác dụng. Bởi vì kháng sinh hãm khuẩn thường tác động đến ribosom một bộ phận trong cơ thể vi khuẩn giúp nó tổng hợp protein để phát triển, tăng trưởng làm ribosom không hoạt động tức là làm cho vi khuẩn không còn phát triển, tuy không chết nhưng ngưng phát triển, không tiếp tục tổng hợp lớp vỏ bọc là đích tác dụng mà beta–lactam tác động vào. Cơ chế tác động của một số loại kháng sinh đối với vi khuẩn Ở đây, cần nêu một số trường hợp đặc biệt. Kháng sinh nhóm aminosid như streptomycin, gentamycin, kanamycin… tuy tác động vào ribosom nhưng lại có tác dụng diệt khuẩn chứ không có tác dụng hãm khuẩn như tetracyclin. Vì vậy, có thể phối hợp thuốc nhóm beta–lactam với nhóm aminosid. Kháng sinh cotrim còn gọi là cotrimoxazol, biệt dược thông dụng bactrim thực sự là thuốc phối hợp hai kháng sinh sulfamethoxazol là một sulfamid với một kháng sinh khác là trimethoprim. Sulfamethoxazol và trimethoprin là hai kháng sinh hãm khuẩn nhưng khi phối hợp trong cotrim thì lại đạt được tác dụng hiệp đồng synergism là diệt khuẩn. Erythromycin được xem là kháng sinh hãm khuẩn vì tác động trên ribosom của vi khuẩn nhưng nếu khi dùng, đạt được nồng độ thuốc trong máu cao sẽ có tác dụng diệt khuẩn. Vì vậy, có khi erythromycin được phối hợp với kháng sinh diệt khuẩn. Nếu không rõ điều vừa kể, ta sẽ thắc mắc đối với chỉ định phối hợp erythromycin với cotrim cotrim như đã trình bày, phối hợp sẵn hai kháng sinh đạt được tác dụng diệt khuẩn, trong nhiều trường hợp chỉ dùng một mình cotrim đủ để trị bệnh nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, có một số nhà điều trị vẫn phối hợp nó với kháng sinh khác, thậm chí thắc mắc với thuốc đã phối hợp sẵn do Việt Nam sản xuất có tên erybactrim, sulferycin. Hai kháng sinh phối hợp không thuộc cùng một cơ chế tác dụng hoặc không gây độc trên cùng một cơ quan Ví dụ như không nên phối hợp hai beta-lactam vì cùng tác động trên vỏ của tế bào vi khuẩn hoặc không phối hợp hai kháng sinh cùng nhóm aminosid vì nhóm aminosid gây độc đối với tai và thận, nếu phối hợp hai kháng sinh cùng nhóm sẽ làm điếc và suy thận trầm trọng trong khi hiệu quả trị bệnh lại không tăng. Hai kháng sinh phối hợp không kích thích sự đề kháng Ví dụ như không phối hợp cefoxitin với penicillin vì cefoxitin kích thích vi khuẩn đề kháng với penicillin bằng cách tiết ra enzym phân hủy kháng sinh phối hợp với nó. Những điều trình bày ở trên cho thấy lý do vì sao có khuyến cáo chỉ sử dụng kháng sinh khi có chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ thú y. Bởi vì có nhiều vấn đề liên quan đến sử dụng kháng sinh chỉ có người sành chuyên môn am tường, trong đó có phối hợp kháng sinh. Đối với thắc mắc về sự phối hợp cephalexin hoặc amoxicillin với cotrim, sự phối hợp này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc phối hợp hai kháng sinh cùng loại diệt khuẩn chỉ có vấn đề cần xem xét là sự phối hợp này có thật sự cần thiết. Còn vấn đề phối hợp penicillin và streptomycin, tuy không trái với nguyên tắc phối hợp kháng sinh nhưng được khuyến cáo không nên phối hợp bởi vì streptomycin hiện nay là loại kháng sinh dùng rất hạn chế chỉ dùng làm thuốc kháng lao, thay vì phối hợp ta đã có nhiều kháng sinh mới dùng đơn độc đạt hiệu quả hơn so với sự phối hợp này. Hiệu quả điều trị bệnh do nhiễm vi khuẩn phụ thuộc Phát hiện bệnh kịp thời sớm; Chẩn đoán chính xác đúng bệnh; Sử dụng kháng sinh đúng nguyên tắc lựa chọn kháng sinh phù hợp mầm bệnh, dùng đúng liều lượng & liệu trình; trợ sức, trợ lực, chăm sóc tốt.

nguyên tắc phối hợp kháng sinh trong thú y